GIỚI THIỆU Tuvien.com

Tuvien.com – Ngôi Chùa Online & Kho Tàng Phật Pháp Vô Tận

Trong thời đại công nghệ số, việc tiếp cận và thực hành Phật pháp đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết nhờ các nền tảng trực tuyến. Trong số đó, Tuvien.com nổi lên như một địa chỉ đáng tin cậy, một thư viện khổng lồ và một "ngôi chùa online" đích thực dành cho mọi Phật tử và những người yêu mến đạo Phật.

Tuvien.com không chỉ là một website, đó là một kho tàng tri thức:

Tuvien.com chứa đựng hàng ngàn bài viết chất lượng về Phật pháp, được chọn lọc kỹ càng từ nhiều nguồn đáng tin cậy. Dù bạn là người mới bắt đầu hay đã thâm nhập kinh điển lâu năm, bạn đều có thể tìm thấy những kiến thức phù hợp:

  • Tủ Sách Kinh Điển Đa Dạng: Trang web quy tụ hàng chục bộ kinh từ các hệ phái khác nhau, bao gồm:
    • Kinh Điển: Cung cấp các bản kinh quan trọng từ Đại thừa, Nguyên thủy và các hệ phái khác.
    • Giới Luật, Luận Giải: Giúp người học hiểu sâu hơn về nền tảng đạo đức và triết lý Phật giáo.
    • Thiền Nguyên Thủy, Tổ Sư Thiền, Mật Tông: Các tài liệu chuyên sâu về các pháp môn tu tập.
    • Triết Học Phật Giáo: Phân tích các khía cạnh tư tưởng sâu sắc của đạo Phật.
  • Audio Thuyết Pháp Phong Phú: Đây là một trong những điểm mạnh của Tuvien.com, nơi bạn có thể nghe pháp bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Trang web lưu trữ các bài thuyết pháp của các bậc Hòa thượng, cư sĩ đạo cao đức trọng như:
    • Thầy Thích Thông Lai
    • Pháp Sư Tịnh Không, Pháp Sư Ngộ Thông
    • Cư sĩ - Diệu Âm (Australia)
    • Cùng nhiều bài thuyết pháp khác trong mục Các bài Thuyết Pháp.

Các mục Audio chuyên đề sâu sắc:

Để thuận tiện cho người nghe, Tuvien.com đã sắp xếp các nội dung Audio thành các chuyên mục chi tiết:

  • Audio Kinh điển đại thừa, Audio Đại tạng kinh (Nikaya), Audio Luận tạng, Audio Luật tạng: Giúp người nghe tiếp cận kinh điển một cách hệ thống.
  • Audio Thiền học, Audio Tịnh độ, Audio Triết học phật giáo: Đi sâu vào các pháp môn và học thuyết chuyên biệt.
  • Audio Truyện Phật Giáo, Âm nhạc phật giáo: Cung cấp nội dung giải trí lành mạnh, giàu tính giáo dục.

Phật Pháp Ứng Dụng & Văn Hóa:

Tuvien.com không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn hướng đến sự ứng dụng thực tiễn trong đời sống:

  • Phật pháp cho người bắt đầu: Hướng dẫn căn bản cho những người mới tìm hiểu.
  • VĂN HÓA: Bao gồm các mục như Truyện Phật Giáo, Chết & Tái sinh, Nghệ thuật sống đẹp, Thơ, Hình ảnh Phật Giáo.
  • Ăn chay: Cung cấp Hướng dẫn nấu chayTài liệu chữa bệnh liên quan, hỗ trợ Phật tử thực hành nếp sống thanh tịnh.

Đặc biệt: Ngôi Chùa Online – Nơi Phật tử Về Nương Tựa

Hiểu được rằng không phải Phật tử nào cũng có điều kiện đến chùa thường xuyên, Tuvien.com đã xây dựng một Ngôi Chùa Online độc đáo. Tại đây, quý Phật tử có thể thực hiện các nghi thức tâm linh ngay trên website:

  • Cúng bái thắp hương: Thể hiện lòng thành kính với chư Phật, Bồ Tát.
  • Cầu siêu, Hộ niệm: Thực hành các nghi thức tâm linh quan trọng cho người đã khuất hoặc người bệnh.

Tuvien.com chính là cầu nối tâm linh vững chắc, giúp mọi người duy trì việc học hỏi và tu tập Phật pháp, mang ánh sáng từ bi và trí tuệ vào cuộc sống hàng ngày. Hãy truy cập ngay Tuvien.com để khám phá kho tàng tri thức vô giá này!

 


 
MỤC LỤC.
1. Lý Do Và Phương Pháp Tu Thiền
2. Bản Chất Tâm
3. Quán Từ Bi
4. Nhân Quả Duyên Sanh
5. Duyên khởi Siêu Việt
6. Tự Tin & Tín Tâm
7. Quán Cảm Thọ
8. Hỷ
9. Thiền Định
10. Một Phương Pháp Thiền
11. Những Bước Kế Tiếp
12. Các Tầng Thiền Định Vô Sắc
13. Bản Tâm Chân Thật Của Mọi Sự Vật
14. Sự Tỉnh Ngộ
15. Buông Xả Và Giải Thoát
16. Ngày Qua Ngày
.
KHI NÀO CHIM SẮT BAY
Hành Trình Phật Giáo Về Phương Tây
Tác Giả: Ni Sư AYYA KHEMA - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: When the Iron Eagle Flies - Buddhism For the West
Wisdom Publications 1991, 2000
Chương 6
Tự Tin & Tín Tâm

Bước 2

   Bước kế tiếp của duyên khởi siêu việt là niềm tin và lòng tự tin.  Khi thực sự nhận ra rằng dukkha (khổ) luôn có mặt trong cuộc sống thế gian, sẽ có lúc chúng ta  muốn tìm đến một cái gì xuất thế gian hầu giúp ta giải thoát khỏi khổ đau.  Nếu ta có thể tìm ra được một giáo lý tâm linh nào đó, thì lòng tin hay tín tâm vào giáo lý đó sẽ phát khởi.  Lòng tin đó phát khởi từ trong nội tâm, không phải do lý trí, vì ở những bước khởi đầu trên con đường tu, ta khó thể có những kinh nghiệm thực chứng của giáo lý ấy.  Do đó, ta không thể xác định giáo lý đó là chân thực, dựa trên lý luận, tri thức.  Nhưng từ trong thâm tâm ta có thể cảm nhận được đấy là một chân lý tuyệt vời, thậm sâu hơn tất cả những gì ta đã được nghe, được nghiên cứu trước đây.  Tự trong niềm tin đã có tình thương, vì chúng ta chỉ có thể tin vào những gì mình thương quý.  Không có tiếng nói của con tim, chúng ta không thể tự động tin tưởng vào bất cứ điều gì.

   Những kẻ đầy lòng hoài nghi, khó thể hoàn toàn tin tưởng vào bất cứ điều gì hay bất cứ ai.  Lúc nào họ cũng níu giữ một điều gì đó lại, muốn được làm chủ phần nào.  Do đó, không bao giờ họ có thể toàn tâm, toàn ý tin theo điều gì.  Nếu ta còn níu giữ điều gì đó, thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm linh của mình.

   Không có liên hệ nào mật thiết hơn sự liên hệ với con đường tâm linh của chính mình.  Đó là sự liên hệ thấm thiết nhất mà ta có thể có được.  Nếu ta có liên hệ với ai đó, như trong hôn nhân, mà ta không hoàn toàn tin tưởng người đó, luôn hoài nghi không biết người phối ngẫu có phải là đối tượng mình kiếm tìm, không biết việc kết hôn có đúng không, thì cuộc hôn nhân đó khó tốt đẹp.  Mặc dầu trước lúc kết hôn, người ta cũng không biết điều gì sẽ xảy ra.  Cũng thế với con đường tâm linh.  Khi chúng ta vừa bắt đầu đặt chân lên đó, ta chưa biết sẽ được kết quả gì.  Chúng ta cũng chưa hiểu biết nhiều giáo lý.  Không có nhiều điểm tựa, vì cho đến lúc ấy chúng ta chưa quán xét về bản thân đủ.  Tuy nhiên, nếu chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào con đường đạo, thì sự tu tập của ta khó mà thành công.

   Rất ít người có khả năng tin tưởng hoàn toàn, đó là lý do tại sao rất ít người thực sự được chuyển hoá qua việc thực tập tâm linh.  Sự chuyển hóa đó là buông bỏ quan điểm, buông bỏ ý kiến nọ kia, các định kiến của mình, để thay vào đó tuân theo những lời dạy của Đức Thế Tôn.  Mặc dầu những điều nầy nói có vẻ đơn giản, nhưng trên thực tế, phần đông chúng ta thấy khó vô cùng.  Những quan điểm đã thành hình, dựa trên quan điểm của xã hội, văn hoá nơi người đó sống, luôn trở ngại họ.

   Chúng ta cũng cần nhớ rằng tâm trí luôn phải đi đôi với nhau.  Nếu ta có thể hiểu một vấn đề nào đó bằng lý trí, nhưng không thể chấp nhận, tin yêu, thì ta không bao giờ thấy thỏa mãn, vẹn toàn.  Ngược lại, nếu chúng ta tin yêu điều gì mà không thể hiểu, không thể lý giải, thì kết quả cũng thế.  Thí dụ nếu như ta có liên hệ với ai đó, ta yêu thương người đó, nhưng không hiểu họ, thì mối liên hệ cũng khó vẹn toàn; ngược lại nếu ta hiểu, thông cảm với ai đó nhưng không yêu được họ, thì kết quả cũng thế.  Điều nầy càng rõ ràng hơn trên con đường đạo.  Chúng ta phải hiểu nghĩa lý của Phật pháp, cũng như tin yêu giáo lý đó.  Lúc đầu khi sự hiểu biết của chúng ta còn hạn chế thì niềm tin yêu càng phải sâu rộng hơn.

   Lòng tin, tín tâm dựa vào sự cởi mở của tâm, biết buông bỏ những định kiến vế giáo lý cũng như quan niệm về một vị thầy phải như thế nào.  Cần phải buông bỏ những định kiến đó vì chúng chỉ dựa trên các giả định, chứ không phải dữ kiện. Chúng ta cần phải như đứa trẻ nắm tay mẹ băng qua con đường đầy xe cộ, phải tự tin rằng mẹ ta biết hơn ai hết.  Nếu chúng ta có thể dốc lòng như thế, thì cảm giác an lành sẽ phát sinh.

   Đức Phật đã ví lòng tin như một gã khổng lồ mù, người đã gặp một kẻ què quặt với đôi mắt sáng, có tên gọi là Trí Tuệ.  Người khổng lồ mù, có tên là, Lòng Tin, đã nói với người tàn tật có đôi mắt sáng rằng, "Tôi rất mạnh, nhưng tôi không thấy, bạn rất yếu, nhưng có đôi mắt sáng.  Hãy đến ngồi lên vai tôi.  Hai chúng ta hợp lại sẽ có thể đi được rất xa".  Thật vậy, Đức Phật không bao giờ tán thán một lòng tin mù quáng, Ngài muốn chúng ta phải xử dụng cả tâm và trí, cân bằng giữa trí tuệ và lòng tin.  Với cả hai đức tánh nầy, chúng ta sẽ có thể đi rất xa.

   Có câu nói rằng lòng tin mù quáng có thể dời cả núi non, tiếc rằng nó đã bỏ qua một chi tiết là, nếu mù, lòng tin làm sao thấy được ngọn núi nào cần được dời đi.  Vì thế cũng rất cần có trí tuệ, nghĩa là sự thấu hiểu rốt ráo giáo lý cũng rất cần thiết.  Ngay cả ở giai đoạn đầu khi kinh pháp còn xa lạ, khó hiểu đối với chúng ta, ta cũng phải quyết dốc lòng tìm hiểu.  Khi làm việc gì, dầu trồng tỉa ngoài vườn hay xây cất căn nhà, ta cũng phải làm với tất cả tấm lòng.  Nhờ sự tinh tấn đó ta sẽ thành công.  Nếu không thì cũng giống như là mày mò với một trò chơi mới.

   Chỉ khi ta nhận ra rằng không có cách gì khác hơn để thoát ra khỏi khổ, thì ta mới có thể hết lòng, hết sức mà theo.  Nếu ta còn tìm kiếm một kẻ hở nào đó, còn chạy theo hạnh phúc thế gian, thì ta vẫn chưa dốc lòng đi trên con đường đạo.  Sự tu tập mài dũa những góc cạnh lồi lõm trong tâm hồn ta, đào sâu nội tâm, đến độ có thể cuối cùng ta không còn nhận ra bản thân nữa.  Có thể coi như ta hoàn toàn bộc lộ mình ra; phơi bày hết những gì ta muốn tự giấu mình, giấu người.  Có vậy thì mới mong sửa đổi, chữa lành mọi thứ được.  Vì hành động nầy thường rất khó khăn, đau đớn, nên ta phải dốc lòng, dốc sức để hiểu được rốt ráo ý nghĩa của khổ đau.

   Nếu chúng ta nghĩ rằng còn có thể tìm được hạnh phúc ở thế gian nầy, nhưng ta chưa tìm ra được, thì ta khó lòng nhận lãnh trách nhiệm khó khăn đó.  Trái lại ta vẫn tiếp tục tìm kiếm câu trả lời trong thế gian nầy.  Thế giới đầy rẫy bao cám dỗ, bao niềm vui, sắc đẹp, cũng như cơ hội, cả một cuộc đời cũng chưa đủ để khám phá tất cả.

   Chúng ta cần một sự thuyết phục hoàn toàn, không chỉ đối với khổ đau, mà cả đối với chân lý với tất cả tấm lòng rộng mở.  Đức Phật đã nói rằng: "Người có ít bụi trong mắt” khi nghe được chân lý, sẽ biết đó là chân lý và dốc lòng tin theo.  Điều đó không có nghĩa là ta không có thể hoàn thành những bổn phận hằng ngày của mình.  Trái lại ta có thể thực hiện chúng tốt hơn, vì giờ những bổn phận đó chỉ là chuyện thứ yếu, không còn là những vấn đề quan trọng nữa.  Ưu tiên được dành cho sự phát triển tâm linh của ta.

   Các công việc hằng ngày, dầu vẫn còn chiếm thời gian, sức lực, trách nhiệm của ta, nhưng không còn gây nhiều áp lực cho ta như khi chúng còn là tất cả những gì ta phải quan tâm đến.  Trước đây ta đòi hỏi chúng phải hoàn hảo, nếu không ta cảm thấy như mình thiếu khả năng.  Giờ ta có thể nhận ra tính cách vô thường và tái diễn  của chúng, nhưng cần thiết phải duy trì, giống như những vòng quay của trò chơi cỡi ngựa.  Chúng không còn là một phần quan trọng trong cuộc đời ta.  Do đó ta có thể sống ung dung hơn.  Chúng ta không còn lo lắng phải luôn đúng, luôn hoàn hảo, vì ta biết rằng còn những vấn đề quan trọng hơn, sâu xa hơn đối với ta.

   Từ đó chúng ta theo dõi sự phát triển tâm linh như ta phải làm đối với một loại cây mỏng manh nào đó trong vườn.  Chúng ta che chở, chăm bón, bảo vệ nó khỏi mọi giông bão.  Kiếp sống của chúng ta cũng mỏnh manh dường ấy, khi ta chưa thành người giác ngộ.  Chỉ khi đã đạt được giác ngộ, ta mới thấy an ổn.  Còn chưa đến lúc đó, vẫn còn nỗi đe dọa ta sẽ tạo ra các ác nghiệp, tham sân si, khiến trở ngại sự phát triển tâm linh của ta.

   Chúng ta có thể trở nên tự mãn khi tọa thiền, khi tinh tấn thực hành trên con đường tâm linh.  Sự tự mãn đó không giống với tự tại.  An nhiên tự tại là điều cần thiết, tự mãn là điều cần tránh.  Tự tại là biết rằng mình đang ở đúng chỗ, đúng thời để giúp cho sự phát triển của mình.  Nhưng tự mãn hàm ý rằng ta thấy không cần thiết phải tấn tới nữa.  Tất cả những điều nầy rất quan trọng trong sự chọn lựa của ta, giúp ta trở nên một người toàn vẹn, với một mục tiêu rõ ràng.

   Tín tâm là một đặc tính không thể thiếu trên con đường tâm linh.  Với Tam Bảo -Phật, Pháp và Tăng- Pháp là quan trọng nhất đối với chúng ta.

   Vào thời Đức Phật còn tại thế, có một vị tỳ kheo quá ngưỡng mộ Đức Phật, ông luôn theo sát chân Ngài như một chú chó con.  Đức Phật đến nơi nào, vị tỳ kheo đến nơi đó.  Một ngày kia vị tỳ kheo bị bịnh, ông phải nằm trong giường.  Lúc đó, ông bắt đầu khóc than.  Khi các bạn đồng tu đến thăm, họ hỏi ông: "Tại sao ông khóc?  Bịnh ông đâu đến nỗi nào.  Có việc gì thế?"

   Ông đáp, "Tôi khóc vì do phải nằm bịnh, tôi không thể gặp được Đức Phật".  

   Các vị tỳ kheo khác trả lời, "Ông chớ lo âu, chúng tôi sẽ báo lại với Đức Phật.  Ngài sẽ đến thăm Ông".

   Khi hay tin, Đức Phật lập tức đến thăm vị tỳ kheo bị bịnh, làm vị nầy vui hẳn lên, xem hạnh phúc lắm.  Lúc đó Đức Phật thuyết rằng, "Ai thấy Như Lai là thấy Pháp; ai thấy Pháp là thấy Như Lai".

   Ai được thấy Đức Phật thì không thấy gì hơn là sự giác ngộ giải thoát, là điều căn bản của Pháp.  Ai có thể thấy được Pháp trong nội tâm mình, là thấy Đức Phật, đồng nghĩa với giác ngộ.  Báu vật quý giá nhất là nhận ra được Pháp nơi chính bản thân mình, không phải bám víu vào ai, dù người đó là Đức Phật, vị Thầy dẫn lối cho ta đi.  Khi ta có lòng tin chân thật nơi Pháp, ta sẽ có thêm động lực để thực hành.  Báu vật đó quý giá hơn tất cả mọi thứ quý giá trên đời, vì nó có thể giúp ta vượt qua, chuyển hóa tất cả mọi vấn đề, mọi trở ngại trên thế gian nầy.  Chướng ngại, khó khăn không biến mất đi, nhưng chúng ta không còn coi chúng là chướng duyên vì chúng ta đã tìm được chân lý tuyệt đối.  

   Lòng tự tin và tín tâm là những phần không thể thiếu trong việc thực hành tâm linh, ngoài lòng ngưỡng vọng và biết ơn.  Đây là những đức tính ta có thể ươm trồng trong ta vì chúng ít được thể hiện ra ngoài. Chúng ta cần có lý tưởng để ngưỡng vọng, và ta có thể tràn đầy lòng biết ơn khi hiện tại ta đã tìm ra được một lý tưởng để tôn thờ; một lý tưởng được coi như vật quý báu nhất trên đời, đó là Pháp, là những  định luật tự nhiên, giúp cho ta thấy được chân lý tuyệt đối.  Lòng ngưỡng vọng đó được thể hiện qua thái độ của ta đối với cuộc sống quanh mình, vì không có gì hiện hữu trên cõi đời nầy không chứa đựng Pháp, không mang tính vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta).  Dầu ta nhìn ở nơi đâu, bên trong hay bên ngoài ta, tất cả đều là Pháp.  Lòng ngưỡng vọng đối với Pháp giúp ta có lòng thương cảm đối với cuộc đời, đối với tất cả mọi chúng sanh vì không có gì khác hơn ba đặc tính trên, do đó tất cả đều chất chứa khổ đau.  Lòng tin yêu, kính trọng ta dành cho Pháp được thể hiện qua thái độ của ta đối với tha nhân, đối với việc tu tập của ta.  Trong truyền thống Thiền Nhật bản có một thói quen rất đẹp là thiền sinh vái chào các thiền sinh khác, cũng như tọa cụ của mình trước khi ngồi xuống tọa thiền. để tỏ lòng kính trọng đối với tọa cụ họ sắp dùng, và huynh đệ đồng tu với mình.

   Chúng ta càng tập cho mình có được thái độ đó, ta càng cảm thấy nhẹ nhàng, cởi mở.  Lòng ngưỡng mộ chứng tỏ rằng có điều gì đó còn to tát hơn bản thân ta, hơn tất cả các định kiến, các khả năng.  Một điều gì đó mà chúng ta có thể coi như là mục đích cuối cùng của mình.  Lòng ngường mộ khiến ta gắn bó với tín tâm.

   Lòng biết ơn là biểu hiện của tình thương, của sự tương quan và có thể nới rộng ra đến với giáo lý, với sự tu tập, thực hành, nơi chốn, với các bạn đồng tu, với tất cả mọi chúng sanh, mọi hữu tình trong vũ trụ.  Chúng ta có thể tri ân duyên lành đã đưa chúng ta đến với Con Đường Thánh Đạo.  Tất cả các đặc tính nầy -tín tâm, sự tự tin và lòng biết ơn- giúp ta dứt bỏ được các ngã mạn, các định kiến cá nhân vì chúng ta đã tìm được một thực tại vi diệu hơn, vượt lên tất cả mọi sự lo lắng ích kỷ cho riêng bản thân.

   Niềm tin, phát khởi do ta đã nghe được chân lý, cần một nền tảng vững vàng dựa trên sự tìm tòi khám phá và tình thương yêu, nhưng không bao giờ một cách mù quáng.  Đức Phật đã dạy, "Nầy hỡi các Tỷ kheo, tất cả vũ trụ nầy đều nằm trong sải thân và tâm nầy.”  (Sải là một đơn vị đo lường của thời xưa, khoảng một thước tám).  Nếu tất cả vũ trụ đều ở trong thân tâm nầy, thì đó là nơi ta cần quay về khám phá.  Mọi lời giải đều ở trong ta, chỉ vì ta chưa khám phá ra chúng thôi.  Khả năng tìm được chân lý trong nội tâm ta, đòi hỏi ta phải có sự tự tin nơi bản thân.  Nếu không, ta dễ thối chí, không thể theo đuổi cho đến cùng.  Niềm tin hoàn toàn rốt ráo giúp ta chắc chắn về con đường đã chọn, dù rằng ta chưa tìm ra chân lý.  Đó là một sự thỏa hiệp, chấp nhận từ nội tâm, một sự thay đổi, chuyển hóa hoàn toàn để có thể thoát khỏi khổ đau, tiến đến tự do, giải thoát.

   Nếu cả vũ trụ nầy đều ở trong ta, ta cần phải biết thương yêu bản thân.  Không có lòng thương, không thể có tín tâm.  Chúng ta cần có một tình thương bao gồm sự dấn thân, một cảm giác trọn vẹn trong tâm hồn cũng như trong việc thực hành, chứ không phải phân hai, lúc thì nhớ thực hành, lúc lại quên.  Khi đã có niềm tin và sự tự tin, thì một con người vẹn toàn và một hướng đi chắc chắn sẽ là kết quả tất yếu.
 

THAM VẤN

Thiền Sinh (TS):   Thưa Ni Sư, nếu không có ngã, thì chúng ta thương yêu ai?  Nói thế có phải là nghịch lý không?

AYYA KHEMA (AK):   Nghe có vẻ như nghịch lý vì có hai cách hiểu.  Nếu dựa trên chân lý tuyệt đối thì không có gì cả.  Không sanh, không diệt, vô ngã.  Nhưng dựa trên chân lý tương đối, ta còn phải đối mặt với các cảm thọ, các vấn đề của mình.  Chúng ta đối thoại ở đây dựa trên chân lý tương đối, vì trên chân lý tuyệt đối, chúng ta sẽ không có gì để nói với nhau.  Vì không có ai để bàn cãi vấn đề gì.  Đối với chúng ta, ái dục là một cảm thọ quan trọng.  Nói có vẻ nghịch lý, nhưng chúng ta chỉ có thể tu tập ở giai đoạn tương đối.  Một khi đã đạt đến giai đoạn tuyệt đối, chúng ta không còn gì để nói.

TS:   Con có nhiều thắc mắc.  Giờ có hai câu hỏi.  Thiền quán có giúp tất cả chúng ta đạt được trí tuệ?  Và, vừa rồi, Ni Sư có bảo là chúng ta không thể hành thiền khi đang khổ đau.  Ni Sư có thể giải thích thêm?

AK:  Thiền quán có thể giúp ta đạt được trí tuệ, nhưng nói thế thì cũng giống như nói rằng, thiền quán sẽ đưa ta đến Niết bàn.  Không phải ai cũng có đủ kiên định, tinh tấn để đạt được tuệ giác.  Nếu chúng ta quán tưởng về một chân lý trong vũ trụ như vô thường, khi hiểu thấu đáo vấn đề hơn, cũng có thể khiến tâm ta dao động, không muốn tiến xa hơn nữa.  Tâm ta có thể nói, "Tất cả đều vô thường", rồi đầu hàng, buông tay.  Tuệ giác chỉ có thể phát khởi khi vô thường có thể được xem như một khía cạnh đã thấm nhuần trong ta đến nỗi ta không thể thấy gì bền vững cả.  Vì thế người ta có thể thiền quán nhưng sẽ không đạt được tuệ giác.

TS:   Lý do là vì sao, chúng ta giái quyết vấn đề đó như thế nào, thưa Ni Sư?

AK:   Đó là do lòng sợ hãi, là một bản tính của con người . . . nỗi sợ bị đoạn diệt của con người giả hợp nầy, hoặc bằng cái chết hoặc do các cảm thọ về ngã không được chấp nhận.  Sự sợ hãi có thể phát sinh nhất là khi ta tiến gần hơn đến cảm nhận mạnh mẽ về sự vô thường nơi thân.  Lúc đó một nỗi sợ hãi ghê gớm hay hoảng loạn có thể phát sinh, vì ta đã khám phá ra một sự thật mà ta không muốn chấp nhận, đó là con người với các cá tính nầy không thật có.  Lòng sợ hãi là chướng ngại đầu tiên và sâu xa nhất khiến ta không thể tiến sâu hơn.  Khi việc hành thiền của ta đã tiến bộ hơn, thì tất cả những nỗi sợ hãi nầy sẽ tan biến đi, vì thiền định đã thay chỗ cho các định kiến của ta.  Lúc khởi đầu, lòng sợ hãi là trở ngại lớn nhất.  Nhưng kiên trì tu tập sẽ giúp ta vượt qua tất cả.

TS:   Tại sao Ni Sư cho rằng chúng ta không thể hành thiền khi không có an lạc, khi khổ đau?

AK:   Dĩ nhiên nếu cố gắng ta cũng thực hành được, nhưng kết quả sẽ không tốt đẹp.  Tâm phiền não, lo âu vì vấn đề gì đó, sẽ luẩn quẩn nghĩ về vấn đề đó mãi -giống như khi ta bị ngứa, ta cứ gãi ở chỗ ngứa mãi.  Tâm phải tự tại, bình an, trước khi có thể trở nên hoàn toàn thanh tịnh.  Cho đến giờ phút nầy, chúng ta đang thực hành một phương pháp thiền tương đương với giai đoạn tập sự.  Sau nầy ta mới bàn đến những phương pháp hành thiền thực sự.  Tâm phải yên tĩnh, tự tại trước khi có thể vào định.

TS:   Nều vì có vấn đề nầy nọ khiền tâm bứt rứt, thì chúng ta không thể hành thiền, đúng không, thưa Ni Sư?  Trong trường hợp đó, ta có nên tiếp tục không?

AK:   Dĩ nhiên là nên.

TS:   Ni Sư có nói trên con đường tâm linh, khi thực hành, đôi khi ta phải lộn ngược từ trong ra ngoài.  Có nhiều vấn đề ta không muốn phơi bày ra, cũng phải phơi bày.  Vậy mà vẫn phải tự tại, bình an.  Nghịch lý nầy giải quyết làm sao thưa Ni Sư?  Ai đã có kinh nghiệm hành thiền đều biết có rất nhiều điều khiến ta khó thể an định.

AK:  Khá chính xác.  Chúng ta hổ thẹn, tự trách, vì những uế nhiễm, phiền não của ta, không muốn chúng xảy ra.  Hành động đó khiến tâm ta bấn loạn, gây trở ngại cho việc hành thiền.  Tuy nhiên nếu ta chấp nhận tất cả những gì dấy khởi trong tâm ta, rồi buông bỏ chúng, thay thế chúng bằng những tư tưởng thiện, thì sẽ không có sân hận theo sau.  Nếu ta chấp nhận mọi việc như chúng xảy ra, không cố gắng sữa đổi chúng, và nếu ta luôn ghi tâm về sự vô thường, khổ, vô ngã, ta sẽ đạt được những kinh nghiệm tu tập cần thiết mà không phải có những cảm xúc rối loạn.  Dầu ta chưa chứng thực được vô ngã tướng, nhưng nếu có lòng tin vào giáo lý của Đức Phật, ta biết rằng đó là chân lý rốt ráo.  Như thế, không có gì phải lo ngại khi cần phơi bày, lộn ngược con người thật của ta ra ngoài.  Khi ta luôn giữ trong tâm những giáo lý tuyệt vời, những giáo lý giúp ta được giải thoát, thì dần dần ta tập chấp nhận, mang ơn cả các uế  nhiễm đó.  Hơn nữa nếu ta có thể đối mặt với chúng một cách khôn ngoan, ta có thể buông bỏ, tránh lập lại các lỗi lầm nầy.  Dĩ nhiên, sẽ có những lúc ta không thể bỏ được những thói quen đã huân tập từ bao đời, và các uế nhiễm vẫn xảy ra.  Nếu chúng không xảy ra thì thật tốt đẹp, nhưng chúng đã xảy ra, ta phải hiểu thế, để chấp nhận chúng, thì không có vấn đề gì.  Trái lại, đó sẽ là một bài học mới của ta trên con đường đạo.

TS:  Con thấy khó hoà hợp cuộc sống đời thường ở thành phố Nữu Ước, nơi con đang sinh sống, với việc thực tập tâm linh.  Thưa Ni Sư có lời khuyên nào không?

AK:   Đúng là có những khó khăn.  Nhưng dần dà, ta phải biết chọn lựa điều gì là ưu tiên của mình.  Nếu ta thấy đời sống tâm linh quan trọng hơn cuộc sống đời thường, thì ta có thể thay vì ở Manhattan, ta đến Pleasant Bay vậy.  Có những người có thể làm như thế vì họ có cái nhìn khác về cuộc đời.  Nhưng nếu chúng ta vẫn còn bị vướng mắc trong những cảm dổ, lôi kéo của cuộc sống đời thường, ta sẽ không có cái nhìn sáng suốt để biết mình muốn gì.  Có thể về sau nầy. . . 

TS:   Có lẽ đây là một câu hỏi khá mơ hồ.  Con thật sự cảm thấy rất hoang mang.  Hình như Ni Sư cho rằng bất cứ điều gì phát khởi, đều không tốt.  Thưa, có phải Ni Sư nói thế không?

AK:   Không.  Hãy hỏi tiếp đi.

TS:   Con nghiên cứu nhiều sách của Thiền sư Chogyam Trungpa Rinpoche, và một số điều Ni Sư giảng ở đây, có vẻ trái ngược lại với những lời dạy của Ông ấy.  Con luôn nghĩ là bất cứ những gì phát khởi đều quý, nhưng ngược lại; con cũng nghĩ ta có thể đón nhận tất cả những gì đã phát khởi và xử dụng chúng làm đề mục để thực tập.  Theo con, Ni Sư lại cho rằng, dầu ta phải đối mặt với chúng ở một mức độ nào đó, sau đó ta cần buông bỏ và đi tìm cái lý tưởng.
 
AK:   Khi em nói "những gì phát khởi", ý nói về tư tưởng phát sinh?  Hay là gì?

TS:   Các cảm thọ mãnh liệt.  Các tình cảm tràn đầy.  

AK:   Cảm thọ và tư tưởng phát sinh trong lúc toạ thiền, có phải đó là điều em muốn hỏi?  Một phương cách quan trọng để đối phó với chúng là đặt tên chúng, buông bỏ, rồi trở lại với hơi thở.  Nắm bắt đào sâu chúng vào lúc đó, chỉ làm trì trệ quá trình hành thiền.  Không thể gọi đó là quán tưởng, vì đấy là những cảm xúc cá nhân không phải những vấn đề chung của nhân loại.  Khi ta có thể thay đổi những vấn đề cá nhân thành những vấn đề của vũ trụ, của nhân sinh, thì ta có thể dùng chúng để quán tưởng.

   Thật ra em đang hướng đến những giai đoạn phát triển khác nhau trong thiền.  Đối với đa số, phải rất lâu mới đạt đến thiền định.  Ở giai đoạn ban đầu, chúng ta cố gắng luôn ghi nhớ trong tâm về đề mục thiền quán -ở đây là hơi thở- và đặt tên cho bất cứ vọng tưởng gì dấy khởi trong tâm để tự biết mình.  Chúng ta đặt tên cho vọng tưởng, nhận mặt nó rõû, để ta biết đó là gì; rồi buông bỏ nó, trở lại với hơi thở của mình.  Vọng tưởng, hay cảm thọ tự nó sẽ biến mất đi sau khi được ta đặt tên, vì ta đã trở thành một người quan sát khách quan.  Chúng ta không còn chủ quan nữa.  Là quan sát viên, chúng ta chỉ quán sát sự việc, không can thiệp, nên các cảm xúc có cơ hội ngưng đọng, rồi tan biến đi.  Đây là những bài học rất quan trọng cho tất cả chúng ta.

   Công phu tu tập thiền quán dần dần giúp ta được nhiếp tâm, để có thể đạt được định.  Thiền định là phương tiện, không phải cứu cánh của việc hành thiền; tuy nhiên, chúng là những phương tiện không thể thiếu để đạt được tuệ giác.  Vì tâm còn phiền não thì còn lo lắng tìm cách giải trừ phiền não hay than thở, trách móc, chứ không chú tâm hướng đến tri kiến giải thoát để đạt được chân lý tuyệt đối, là cứu cánh của việc tu thiền.  Chúng ta phải chuẩn bị cho tâm trở nên thanh tịnh, an định, mạnh mẽ để nó không cón phải sợ hãi khi đối mặt với những sự thật phũ phàng nhất.  Các vị đã hành thiền một thời gian, không còn bị nhiều chướng ngại, khó khăn như lúc mới bắt đầu.

TS:   Thưa Ni Sư, có lẽ thiền định làm con hoang mang.  Con không thực sự hình dung rõ về điều đó lắm.    

AK:   Về danh từ?

TS:   Dạ không,  về trạng thái.

AK:   Chưa trải qua kinh nghiệm nầy thì có thể so sánh giống như chưa nếm thử trái xoài.  Khó nói về mùi vị của trái xoài khi ta không biết nó là gì.  Nhưng ít nhất chúng ta cũng biết các trạng thái thiền định nầy có thể tu chứng, và biết đó là một phần của duyên khởi siêu việt.  Nói vậy có rõ hơn không?   "Thiền định" (meditative absorption) trong Anh ngữ là được dịch từ Jhana trong tiếng Pali, ngắn gọn và sát nghĩa hơn.

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

佛教与佛教中国化 如意 信長の野望 創造 戦国立志伝 твил 長崎裁判所 四柱推命 仕事運 出庫 愛液 酸洗い工程 府中市立浅間中学校 進学先 弘一大師名言 מרק תימני 南京卫生局官电话 鹿児島県 地図 러프스톤 蔡文靜老公 マジカル頭脳パワー 大分県 妙行寺 발로란트 업데이트 안됨 打ち込んだ文字が左上に出る バルーンフラワーピック 人生是 旅程 風景 藤井 充 datファイル векторная структура 構文課題 小児 ゲルト フォン ルントシュテット র ক ইয กลอนอน ร กษ 根據立法院職權行使法規定請願文書經審查結果不成為議案者應敘明理由及處理經過送由程序委員會報請院會存查並通知請願人但有出席委員提議幾人以上連署或附議經表決通過仍得成為議案 簡単便利戒名授与水戸 テールランプとは 損保ジャパンパートナーズ 年収 سكسي عربي ساخن 地方税共同機構とは 天眼佛教 エアハースインターナショナル สายไหม ปท มมะ 룬레이 빨간약 디시 โค งบ อแร 蔓草模様 沙沙給優 台中 按摩 意味 必要な要 中札内村 トムラウシ川 новый разъем для видеокарт 自己破産すると家族は гғӨгғ гғј 하겐다즈 배탈 디시 иҢЁеҹҺеӨ еӯҰ 頂峰藝術門