Bốn mùa hoa giác

 

Tỳ Kheo Ni Huệ Hải  biên soạn 

 

III, MÙA THU TỪ 16-07 ĐẾN 15-10

 

1.CHƯƠNG TRÌNH THỌ Y CÔNG ĐỨC 16-07

 

-   Lễ Tổ - Lễ Phật - Tụng kinh Cahyna.

-   Lễ 18 A-La-Hán.

-   Huấn từ khai khoá Cahyna.

-   Chúng nhỏ giải tán. Tỳ-kheo-ni lưu lại yết ma:

a)Sai người trì y.

b)Trao y công đức.

-   Thọ y công đức.

-   Lễ y công đức.

-   Bát Nhã- Hồi hướng-Tam quy.

 

 

LỄ Y CÔNG ĐỨC

 

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ

 

1.Cahynay.

2.Kiên thật y. 

3.Thưởng thiện phạt ác y. 

4.Công đức y.

5.Tánh tướng bất nhị, minh hợp vô vi, nhất thiết tối thượng Tăng già gia chúng. 

6.Thập Địa tam Hiền, ngũ quả tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng già gia chúng. 

7.Tỳ-kheo ngũ chúng, hoà hợp vô tranh, nhất thiết trụ trì Tăng già gia chúng. 

8.Kết tập phiên dịch, giảng dạy chú thích tam tạng, Đông Tây kim cổ liệt vị Pháp sư.

9.Tây thiên Đông độ Việt Nam, thập phương du hoá, truyền giáo khai sơn lịch đại Tổ sư.

10.  Tám trăm Tỳ-kheo núi Talala

 

Cùng Thế Tôn may y Cahyna,

Năm nấc thang A Na Luật Đà

Xa lìa trần lao đời chật hẹp.

Chứng A-La-Hán, đủ thần thông

Đại phước lực, đại oan thần.

 

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đệ nhất thiên nhãn Cahyna đàn tràng đường chủ, đại thánh A Na Luật Đà tôn giả (3 lễ)

 

LỄ 18 A-LA-HÁN

 

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ: NAM MÔ

 

-   Thập phương tam thế nhất thiết chư Phật.

-   Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

-   Cahyna Tôn Pháp.

 

1.Đệ nhất trí tuệ XÁ LỢI PHẤT tôn giả.

 

2.Đệ nhất thần thông MỤC KIỀN LIÊN tôn giả.

 

3.Đệ nhất đầu đà MA-HA CA DIẾP tôn giả.

 

4.Đệ nhất nghị luận MA-HA CA CHIÊN DIÊN tôn giả

 

5.Đệ nhất vấn đáp MA-HA CÂU HY LA tôn giả.

 

6.Đệ nhất chánh định LY BÀ ĐA tôn giả

 

7.Đệ nhất khéo trì pháp Phật CHÂU LỢI BÀN ĐÀ tôn giả,

 

8.Đệ nhất đa văn ANANĐÀ tôn giả

 

9.Đệ nhất nghiêm hộ sáu căn NAN ĐÀ tôn giả.

 

10.  Đệ nhất mật hạnh LA HẦU LA tôn giả.

 

11.  Đệ nhất phước điền cõi trời KIỀU PHẠM BA ĐỀ tôn giả.

 

12.  Đệ nhất khéo giáo hoá CA LƯU ĐÀ DI tôn giả.

 

13.  Đệ nhất  phước điền nhân gian TÂN ĐẦU LƯ PHẢ LA ĐOẠ tôn giả.

 

14.  Đệ nhất thọ mạng BẠC CHÂU LA tôn giả.

 

15.  Đệ nhất giỏi thiên văn MA-HA KIẾP TÂN NA tôn giả.

 

16.  Đệ nhất nghĩa không TU BỒ ĐỀ tôn giả.

 

17.  Đệ nhất nói pháp PHÚ LÂU NA tôn giả.

 

18.  Đệ nhất thiên nhãn, Cahyna đàn tràng đường chủ, đại thánh A NA LUẬT ĐÀ tôn giả.

 

-   Đạo tràng hội thượng Phật Bồ-tát nhất thiết chư Hiền Thánh Tăng.

 

 

2.CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC NĂM THÁNG Y CÔNG ĐỨC

 

 

I.GIỚI

 

( Phần này đã học trong hạ nay chỉ hành trì)

 

a/  Hình đồng mỗi ngày thọ bát quan trai và học 24 oai nghi.

b/  Sadini học Sali Luật Giải và Quy Sơn Cảnh Sách.

c/  Thức xoa học giới bổn.

d/  Tỳ-kheo-ni ôn luật Tứ Phần và Như Thích.

 

II. HỘ 6 CĂN

 

Tụng sám 6 căn trong bộ Khoá Hư của Trúc Lâm sơ Tổ (đã in riêng)

 

 

III. THIỂU DỤC TRI THỨC

 

Học kinh Cahyna (đã in riêng).

 

IV. TỰ CHỦ

 

Tứ Niệm Xứ (đã in riêng).

 

V. NGỒI THIỀN

 

Sổ tức và quán bất tịnh để trừ ngũ cái, khai tuệ vô lậu.

 

VI. NIỆM PHẬT

 

Ngoài các thời khoá tu học, chị em phải nhiếp tâm niệm Phật để cầu vãng sanh.

 

ĐÁP TỪ

 

Cahyna là tiếng Ấn Độ, Tàu dịch là kiên thật ( bền chắc và chân thật).

Thuyết pháp dạy người làm thiện để hưởng phước trong luân hồi, không phải là pháp Cahyna.

 

Pháp Cahyna: chân thật đưa người tu đến kết quả ra khỏi luân hồi, vĩnh viễn an vui.

Cuộc sống chúng ta hiện tại tạm bợ như khách trọ đến rồi đi. Thân tâm cảnh đều vô thường. Lầm cho là thật mà cố tình bám víu, khởi tham sân si thì đây là gốc trầm luân. Chỉ có ai nắm được một pháp Cahyna, cố vươn ra khỏi 12 khoen nhân duyên sanh tử hư vọng, thì đời sống mới thật có phẩm chất người, khác loài muông thú.

 

Nhận thức tình vọng tưởng làm tâm tánh. Một bề nô lệ cho kiến-hoặc và tư-hoặc sai sử, quyên hẳn chân tâm tịnh thường diệu giác. Kinh dụ người này như con ông trưởng giả bỏ cha trốn đi. Đánh đu với giặc làm sao yên thân?

 

Y Cahyna: Kinh kể chuyện ngài A Na Luật Đà, đã mù cả hai mắt, lại rách cả ba y. Toàn chúng họp nhau may y cho ngài, mở đầu tục lệ mỗi năm, sau ba tháng an cư, chúng Tăng chia vải may y, cần nhớ tới các bạn rách y, thiếu y. Phật dạy phải chọn lọc một tấm y đẹp nhất để làm y công đức. Coi như tấm y này là của toàn thể Tăng chúng thánh phàm trong trụ xứ. Sai người đủ năm đức( không ái, không sân, không sợ, không si, có trí tuệ biết rõ bổn phận trì y) giữ gìn y trong năm tháng, thời gian đại chúng học và tu pháp Cahyna.

 

Luật Hiền Ty dạy:” Y công đức phải dành cho Tỳ-kheo-ni không y hoặc rách y, đặc biệt không cho người keo sẻn ( tự mình có được mà vẫn xin). Ai cúng dường một tấm y cho Tỳ-kheo, công đức không thể nghĩ bàn. Cúng dường những tấm y không thể nghĩ bàn ấy chồng chất cao bằng núi Tu-di, phước báu không bằng cúng dường một tấm y công đức”.

 

 

Pháp môn Cahyna nào cũng đòi hỏi ba điều kiện:

 

1.-Cần ý thức rằng càng nói nhiều cách đạo càng xa, nói là hao tổn khí lực, là tinh thần hướng ngoại. Nội quy số 8 cấm nói chuyện tạp. Hỏi Phật pháp quá 10 phút phải xin phép tri chúng. Đây là để chị em an hoà tinh thần, dồn hết tâm lực vào nội quán. Qua được lớp cửa này như mây bay đi, hé mở một khung trời an ổn thênh thang. Tổ Đạt Ma 9 năm quay mặy vào vách cầu Bát Nhã vô ngôn của cụ Tu Bồ Đề, cái im lặng mà vua Đế Thích tung hoa xưng tán. Nếu cứ luôn luôn khắc  trí, quyết tiến đến cùng, trong nhịp bước vui tươi vô uý, nhất định phen này một phiến công phu dứt sạch vô minh tận gốc, thì sẽ đạt tới cái im lặng thật tướng bất nhị của cư sĩ Duy Ma Cật. Có hiểu rõ như thế, chúng ta mới biết ơn tri chúng, tri sự đã gia công gò ép chúng ta vào quy luật. Đã biết ơn thì lo đền ơn, chúng ta sẽ tận tình đưa hậu lai vào quy luật giải thoát.

 

2.- Thận trọng chăn trâu. Tinh cần tỉnh giác, chánh niệm từng phút từng giây.

Sư Huệ Tạng đang làm bếp. Mã Tổ xuống hỏi làm gì?

-   Thưa: Chăn trâu.

-   Chăn làm sao?

-   Thưa mỗi khi vào mạ thì nắm mũi kéo lại.

-   Thế là con đã biết chăn trâu.

 

Luôn luôn thức tỉnh, không nghĩ về quá khứ vị lai, không nghĩ tới cảnh ngoài. Lấy thân tâm làm đề mục thiền, làm đối tượng trí quán. Tuệ minh sá như gương, lặng lẽ chiếu soi:

 

Sáu căn sáu trần là sắc ấm.

Khổ vui thuận nghịch là thọ ấm.

Yêu ghét mừng giận là tưởng ấm.

Hơi thở, 4 oai nghi là hành ấm.

Thấy nghe ngửi nếm phân biệt là thức ấm.

 

Mùa y công đức chúng ta học song song hai kinh Cahyna và Tứ Niệm Xứ.

 

Soi chiếu tiểu oai nghi, ghi niệm không lười mỏi. Đi biết mình đi, nhấc chân biết nhấc chân.v.v...Ngồi nằm soi chiếu hơi thở. Thở ra thở vào mỗi mỗi biết rõ. Hễ hơi mờ mịt, đó là vọng tưởng đã khởi.

 

Soi chiếu và tự chủ từng hơi thở từng oai nghi. Lại giác sát nội tâm, biết vọng tưởng thì để tan đi. Định tuệ cân phân đưa đến điều hoà, an bình và giải thoát.

 

3.- Coi thân này như đã chết. Đại thừa chủ chương vô ngã vô pháp. Tiểu thừa quyết định nếu còn tơ hào kiến- hoặc tư hoặc tức không giải thoát luân hồi. Vào được cửa này là thánh, còn đứng ngoài là phàm. Mà cửa này ai cũng vào được, chỉ cần quyết tâm. Quan trọng ở chỗ biết cửa mà chịu vào. Muốn biết cửa thì phải học kĩ Phật Pháp. Chịu vào là thực tập. Thợ mộc, thợ cày, nghề nào cũng do luyện tập mà thành. Luân hồi sáu đạo do tập tham, sân, si mà có thì Thánh Hiền giải thoát cũng phải do luyện Giới Định Tuệ mà chứng. Diệu quan sát trí chuyển Mạt-na thức khiến cho giác tỉnh từ tiềm tức phát ra. Nếu chỉ hiểu biết qua ý thức thì vừa tỉnh liền mê, biến hoá từng sát na, luân chuyển từng mỗi niệm cho nên quán trí phải chuyên cần.

 

Nguyện cầu chị em trong đời sống hàng ngày, hằng nhớ thanh tịnh ba nghiệp, nhẫn nhục nhu hoà, mỗi mỗi y ly, tương ứng với Cahyna pháp, ngõ hầu sớm đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, năm phần hương Pháp-thân.

 

 

 

3. KÍNH ĐỆ HOÀ - THƯỢNG GIÀ LAM VIỆN CHỦ

 

Kính bạch Hoà-thượng!

 

Ni chúng Liên Hoa nương Hoà-thượng làm đệ ngũ luật sư mùa an cư năm nay đã được vui hoà êm đẹp. Chúng con xin Hoà-thượng gia ân cho chúng con thêm năm tháng y công đức.

 

Trì y công đức với chúng con là một sự tướng cần thiết để y cứ vào đó mà cùng nhau nối tiếp công phu.

 

Trì y nếu là bằng chứng đức hạnh không tham, không sân, không si thì nguy hiểm cho người trì. Bên trong, khó mà không kiêu mạn ngầm. Bên ngoài, khó mà không chiêu vời gai độc ganh ghét. Vì vậy ngày nay, không mấy chùa muốn bày vẽ việc y công đức.

 

Nay chúng con xin Hoà-thượng cho phép Liên Hoa trì y công đức chỉ vì mong cho toàn chúng tiến tu đạo hạnh. Người trì y chỉ là một chức việc trong các chức việc. Thay chúng gìn giữ trong năm tháng không ái, không sợ, không sân, không si. Cứ một bề nhẫn nhục như cục đất ai muốn liệng đâu thì liệng, như chiếc khăn lau, ai muốn lau giày dép tuỳ ý.

 

Muốn nhớ hộ sáu căn được như vậy, phải là người rảnh rang không phận sự, chỉ có một bổn phận trì y. Tâm hồn bất tịnh quán và từ bi quán, may ra có thể thành công trong năm tháng. Nếu lỡ có sơ sót, xin Hoà-thượng cho sám hối rồi lại tiếp tục công phu.

 

Một khi tuyên bố người trì y chỉ là kẻ tập học đức hạnh, chớ không phải là người đức hạnh đã thành, thì sẽ tránh được những chướng ngại của thời mạt pháp.

 

Con xin kính đệ lên Hoà - thượng chút thiển ý. Ngưỡng mong Hoà-thượng từ bi chỉ thị.

 

Tỳ-kheo-ni Hải Triều Âm đảnh lễ tri ân.

 

Hoà-thượng chấp thuận cho

Tỳ-khoe Bảo Liên 2 hạ trì y công đức

 

 

 

 

4. TỨ NIỆM XỨ VÀ PHẢN VĂN PHÁT NGUYỆN

 

Kính bạch trên Thầy, kính thưa Sư cô Giám viện và toàn ban hộ pháp.

Chúng con những tưởng sau ba tháng hạ, Liên Hoa chẳng còn được sum vầy cùng nhau tu học. Nào ngờ đâu có cảm tất có ứng, vì lòng trí thành tha thiết nên thiên long bát bộ đã sắp đặt cho Liên Hoa thêm 5 tháng y công đức.

 

Lai Quả thiền sư có dạy:” Đại bệnh sanh tử nhất định phải uống thuốc. Các ông phải hiểu thân người khó được. Trải qua bao kiếp trong các loài, đến nay mới được thân người. Mà đời người chỉ mong manh trong hơi thở. Nếu ta để thân này trôi qua vô ích, há chẳng phải là phí mất sự vun trồng của đời trước sao?”

 

Hưng Thiền Đại Đăng quốc sư di giáo rằng: “ Dầu chỉ một người thôi, sống hẻo lánh nơi núi rừng, kết cỏ làm am, ăn rễ cây luộc mà nhất tâm quán tưởng đến chỗ cốt yếu. Người này hằng thân thiết đối diện với ta và biết đáp đền ân nặng”

 

Thật thế, người tu chỉ có một việc để trên đầu là: “ Sanh tử sự đại”.

 

Kính bạch Thầy! Tương lai chưa biết sẽ ra sao, hiện tại năm tháng y công đức này là thời gian vô cùng quý báu. Ngày giờ như thoi đưa, tháng năm như chớp mắt, trong thời gian ngắn ngủi này phải lo sao cho thiết thật giải thoát. vì thế ban Tứ Niệm Xứ và Phản văn chúng con hôm nay quỳ trước Tam-bảo, xin thành tâm phát nguyện, trong năm tháng quí giá này, chúng con thực tập theo năm nấc thang kim cương của ngài A Na Luật Đà, cùng nhau dõng mãnh đả thất, bắt đầu kể từ hôm nay.

 

Suốt thời gian qua trên Thầy, Sư cô Giám Viện và toàn ban hộ Pháp đã tận lực đùm bọc cho lớp chuyên tu đứng vững đến giờ này. Một lần nữa nương hồng ân Tam-bảo, nương đức trên Thầy, Sư cô Giám Viện xin toàn thể đại chúng hoan hỷ cho chúng con chuyên tu thêm 5 tháng nữa, để hạnh nguyện và công đức chúng con được vuông tròn. Chị em chúng con thành kính đảnh lễ tri ân.

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

 

5. CÓ MINH TÂM MỚI KIẾN TÁNH

 

Ở Linh Quang một buổi sáng, Thầy chỉ tay xuống hồ hỏi Huệ Nghiêm: Con thấy gì?

 

- Thưa con thấy cả bầu trời và sum la những cành mít. Bóng in trên mặt hồ rõ quá!

- Con thấy đáy hồ không?

- Thưa không.

- Vì sao?

- Bởi vì nước đục.

- Thế tại sao lại thấy cả bầu trời?

- Thưa vì nước đứng lặng như gương nên phản chiếu cảnh ngoài. Cũng bởi vì nước đục, cảnh thật của hồ không thể hiện ra nên cảnh ngoài thấy rõ.

- Con có thấy sự điên đảo này giống chúng ta không?

- Thưa Thầy chúng con đang học Tứ Niệm Xứ. Chúng sanh lồng ngực toàn tham sân si mạn nghi tà kiến. Tâm bị phiền não làm mờ mịt, ngang khởi bốn đảo:

 

1- Thân bất tịnh cho là quý báu.

2- Thọ là khổ lại cứ ước cầu càng nhiều càng hay.

3- Tâm vô thường mà cứ đòi mọi người chung thuỷ với mình.

4- Pháp vô ngã mà căn, trần, thức mỗi mỗi đều cho là thật.

 

Nếu không giác tỉnh thì bao nhiêu khả năng minh chiếu chỉ dùng để phân biệt khách trần ngoại cảnh hư vọng. Cũng chính bởi vì không biết pháp thân, chân tâm, bản tánh của mình nên từ lịch kiếp cứ đắm say sống với luôn hồi sanh tử.

 

-   Cho nên muốn có tuệ nhãn việc đầu tiên của chúng ta là phải thanh tịnh tâm địa.

 

 

6.THIỀN MINH SÁT

( Rút ở cuốn Mặt Hồ Tĩnh Lặng)

 

Ngồi ngay thẳng. Để ý đến hơi thở ra vào. Đừng kiểm soát hay điều khiển thở mà sẽ mất thoải mái. Nên hô hấp tự nhiên, Hơi thở thở tự nhiên vẫn nhẹ nhàng và điều hoà.

 

Nếu phóng tâm, hãy dừng lại và trở về đề mục. Lúc đầu ta hay có khuynh hướng làm chủ hơi thở, đưa hơi thở theo ý mình. Rất không nên. Đừng tìm cách điều chỉnh nó. Chỉ quan sát. Có lúc ta cảm giác như hơi thở ngưng lại. Đó chỉ là một cảm giác hư vọng, cứ bình thản tiếp tục, một lát sau, sẽ thấy hơi thở rõ ràng như trước.

 

Tiếp tục giữ tâm an tịnh dù ngồi trên xe đò, vẫn vào một cách an lạc dễ dàng mau chóng. Đạt được sự tiến bộ này là vào đạo đã khá. Nhưng phải quan sát những đối tượng của giác quan. Để tâm an tịnh, ghi biết  6 trần, các đối tượng của thân tâm. Tất cả cái gì phát sanh cũng ghi nhận, dù thích hay không thích. Khách quan mà ghi nhận không để yêu ghét ảnh hưởng. Dần dần sẽ thấy những cảm giác này cũng như các hiện tượng chỉ là vô thường, vô ngã khổ và không. Chỉ quan sát, không can thiệp vào một thứ nào. Đây là thiền minh sát đem lại sự bình an tĩnh lặng.

 

Chẳng bao lâu tuệ giác vô thường vô ngã sẽ xuất hiện. Đây là bước đầu của trí tuệ thật sự, cốt tuỷ của thiền, dẫn đến giải thoát.

 

Trong khi hành thiền, ta thấy ánh sáng, chư thiên, đức Phật.v.v...ngay khi ấy quay về xem tâm mình. Chớ quên điểm căn bản này. Cứ chú tâm quan sát, không mong mỏi thấy gì cũng không xua đuổi. Nếu theo đuổi những hình ảnh này, tâm sẽ mất an ổn. Chỉ nên nhớ đến hơi thở, coi tất cả đều vô thường vô ngã.

 

Dù những hình ảnh ấy có tới sát gần cũng mặc, cứ chú tâm vào hơi thở. Hít vào thở ra ba hơi thật dài, mọi hình ảnh sẽ hết. Mọi kinh nghiệm bất thường đều đem lợi ích cho bậc chí nhưng là mối tai hại cho kẻ thiếu khôn ngoan. Tiếp tục hành thiền cho tới khi không còn những hình ảnh quấy nhiễu.

 

Nếu tâm muốn vui, chỉ cần ý thức rằng những vui này không bền vững. Không nên sợ những hình ảnh từ tâm mình biến ra. Những tâm sở khác nào du khách đến rồi lại đi.

 

 

THIỀN HÀNH VÀ HÀNH THIỀN

 

 Mỗi ngày đều phải kinh hành. Hai tay đan vào để trước bụng. Bóp chặt một chút cho dễ chú tâm. Bước bình thường, phải biết rõ mình. Phóng tâm, hãy dừng lại một chút để đưa tâm trở về. Vẫn phóng tâm, hãy chú ý vào hơi thở. Luôn luôn chánh niệm.

 

Cơ thể mỏi mệt hãy thay đổi tư thế. Dầu hành thiền suốt đêm mà không giác tỉnh những diễn biến của tâm thì cũng chẳng phải là tinh tấn. Hãy nhìn xuống đất trước mặt khoảng 2 mét, chú tâm vào những cảm giác của cơ thể hoặc niệm Phật. Đừng sợ hãi khi thấy những hiện khởi của tâm. Đừng để những tư tưởng và cảm giác chói buộc. Nhìn vào toàn thể tiến trình sanh diệt.

 

Có như thế trí tuệ mới phát triển. Điều gì hiện khởi trong tâm phải kịp thời giác tỉnh. Nếu không, phiền não sẽ xâm chiếm. Chỉ có chú tâm mới đốn ngã được nó. Do có kẻ trộm ta mới lo giữ của. Do có phiền não ta mới chăm hành thiền.

 

Hành thiền là phải giác tỉnh trong mọi hoạt động chớ không phải tìm sự bình an tĩnh lặng trong lúc ngồi.

 

Thực hành tốt đẹp là tự hỏi mình một cách thành thật: Tại sao ta sinh ra? Hàng ngày tự hỏi 3 lần như vậy.

 

Tham dự kết tập tam tạng phải là A-la-hán. Anan quyết định hành thiền suốt đêm để đạt kết quả. Sự cố gắng chỉ đem lại mệt mỏi. Anan đành đi nghỉ. Nhưng khi đặt mình xuống, đầu chưa chấm gối, Anan chứng A-la-hán. Như thế nghĩa là phải sạch hết những háo hức mong cầu dù là ý muốn đắc đạo, mới giải thoát được.

 

Việc thực hành quan trọng, hãy bắt tay vào. Đừng chần chừ do dự nữa mau lên đường. Không bao giờ bạn ân hạn đâu!

 

 

 

7. QUÁN BẤT TỊNH

 

Hạt giống đầu tiên là nghiệp dâm dục. Thọ tinh cha huyết mẹ làm thân. Ở trong tử cung chín tháng 10 ngày góp đủ máu tanh thành máu căn. Nằm trong dạ con, chung quanh là mấy thước ruột toàn phân thối. Sát cạnh là bọng đái khai nồng. Tất cả tắm toàn nước nhớp khắm. Từ chỗ hạ tiện nhất mà ra. Thân khởi thuỷ như vậy. Mà chúng ta quên bẵng, cứ kiêu mạn tự thấy mình quan trọng.

 

Mở nút ve nước hoa, ai nấy thấy thơm. Mở nắp thùng phân, ai nấy vội vàng bịt mũi. Thân chúng ta nếu là trầm hương thì sao chín khiếu ngày nào cũng chảy ra toàn thứ không sạch: 2 mắt ra ghèn, 2 tai ra ráy, 2 lỗ mũi thòng lòng chất xanh, miệng khạc đờm trắng, nào phân nào tiểu. Các lỗ chân lông hơi ra cũng hôi, nước ra cũng hôi, cáu ghét ra cũng hôi. Cả biển nước rửa cũng không thể sạch. Bởi vì thân là cái máy chuyên sản xuất những vật nhơ. Sơn hào hải vị, chọn những thứ sang quí, trái cây thật tươi thơm, cho vào miệng, cách một đêm, biến thành những thứ nhơ bẩn ai cũng chán ghét. Cứ như thế trọn đời.

 

Cuối cùng khi tắt thở, máu không được hấp dưỡng khí, chuyển thành màu đen, làn da xanh xám, tím bẩn. Hơi ấm hét, thần thức không hiện hành. Không có sức chấp trì của thần thức, các tế bào vỡ tung, nước không còn bị ép, bật ra, toàn thân sưng phù. Chỉ còn phảng phất hình hài tướng mạo con người. Hai mắt sọp. Toàn thân nứt loét, bụng vỡ, ruột lòi, gan nứt, phân tiểu ứ khắp. Xú khí bốc lên lừng trời lừng đất. Bởi vì độc khí này đem bệnh hoạn cho những ai gặp phải.

 

Dòi bọ lúc nhúc ăn hết thịt rồi tự tan đi, còn lại bộ xương phủ bụi. Lâu ngày gân đứt, xương long rụng, mủn tàn, trả về cho đất.

 

Như trên là thân phận chung của chúng ta. Già trẻ, giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu, ai cũng đi đến giai đoạn hoại diệt này. Chỉ có một mùi giống nhau là mùi thối, một chất giống nhau là thịt nát. Vậy mà chúng ta thường quên, cứ tự cho mình là cao quý. Vì hy vọng sống lâu nên mới tạo đủ các nghiệp để bồi dưỡng thân và bảo vệ danh giá. Đức Phật khuyên chúng ta tập quan sát để thấy sự thật. Có trí tuệ sẽ tiêu ba độc tham, sân, si. Hạnh phúc của con người ở ngay chỗ giác tỉnh.

 

 

 

8. KINH NIẾT-BÀN PHẨM CA DIẾP BỒ TÁT

 

THỌ ẤM là nhân sanh ra tất cả ái, tất cả hữu lậu thế gian, khiến chúng sanh trầm chìm trong ba cõi. Do có thọ, chúng sanh mới chấp thân này là ta, sáu trần là cảnh của ta. Muốn xả thọ, cần quan sát thọ chẳng do tưởng sanh, chẳng do tánh sanh, chẳng tự sanh, chẳng tha sanh, chỉ do các duyên hoà hợp mà có. Duyên chính là ái. Vì ái thân ái cảnh mới thọ.

 

Vậy thọ gì làm nhân cho ái? Ái gì làm nhân cho thọ?- Thọ thân làm nhân cho ái, ái thân làm nhân cho thọ. Thọ và ái làm nhân duyên lẫn nhau. Khiến vòng luân hồi xoay chuyển không cùng tận. Muốn xả ái, dứt thọ, chỉ cần quán thân bất tịnh, pháp vô ngã. Hai chấp ngã và ngã sở đã tiêu thì Ái và Thọ sẽ tận diệt.

 

Theo vòng 12 nhân duyên thì nhân xúc có thọ. Xúc có 3:

 

1-Minh xúc, trí tuệ, thấy rõ thân cảnh hư vọng nên xả thọ.

 

2-Vô minh xúc, mê chấp ngã và pháp.

 

3-Minh vô minh xúc( thí dụ biết vị trần là huyễn nhưng vẫn thích ăn chè).

 

Hai xúc sau tăng trưởng thọ nên phải dứt. Thế gian nói khổ thọ, Phật gọi là khổ khổ. Thế gian nói lạc thọ, Phật gọi là hoại khổ. Thế gian nói không khổ không vui, phật gọi là hành khổ. Bản chất của thọ là khổ. Thọ lại còn là gốc của ba độc tham sân si, mở ra đủ thứ tội ác. Tuệ Tứ Niệm Xứ là thuốc trị độc duy nhất. Chánh kiến thọ giới luật, trì Phật Pháp, gọi là phạm hạnh thanh tịnh.

 

TƯỞNG ẤM. Chỉ vì lầm cho sắc là có thật, cho thọ là vui mới có tư thưởng tham đắm. Vô minh là thể chất của tất cả ác tưởng ( căn bản phiền não và tuỳ phiền não). Chánh kiến Tứ Niệm Xứ thanh lọc tưởng ấm đưa về phạm hạnh thanh tịnh.

 

Quán vô thường, vô ngã, khổ và không, quán thân bất tịnh, món ăn đáng chán, là khéo dùng tư tưởng hướng về Niết-bàn.

 

 

 

9. NGÀY 30-07 LỄ ĐỨC ĐỊA TẠNG

 

Nâng chén cơm cúng dường cha mẹ là một cử chỉ đẹp, khắp cõi người ngợi khen. Ai cũng kính phụng thờ cha mẹ sẽ sanh về cõi trời. Đức Thích Ca Thành Phật về Ca Tỳ La độ cho phụ vương. Rồi lên Đao Lợi thiên cung vì mẫu hậu nói kinh Địa Tạng. Phật Tử nhớ ơn cha mẹ, noi gương đức Bổn Sư, khuyên cha mẹ tụng kinh Địa Tạng. Nếu cha mẹ đã quá vãng thì cha mẹ tụng kinh Địa Tạng.

 

ĐỊA: đất, là nơi phát sanh, nuôi dưỡng, gánh vác muôn loài. trong kinh Phật bảo Văn Thù:” Ông quan sát hết thảy chư Phật, Bồ-tát, Thanh-văn, các chúng trời, rồng, quỷ thần trong hội này, có biết số lượng là bao nhiêu không?”

 

-   Bạch đức Thế Tôn, con tận dùng thần lực ttrong ngàn kiếp cũng không thể lường tính được.

-   Số lượng đó toàn do Bồ-tát Địa Tạng từ lâu xa tới nay đã hoá độ, đương hoá độ. Đã tác thành, đương tác thành.

 

Đối với tầm hiểu biết của loài người thì đất tượng trưng sự bền bỉ xuất thời gian, sự rộng lớn khắp không gian. Bồ-tát lấy chữ Địa làm tên để hình dung Pháp-thân ngài thường trụ ở khắp mười phương. Từ nơi đây sẽ hằng sa tánh đức phát sanh. Từ nơi đây vô biên công hạnh lợi sanh. Cũng từ nơi đây an lập muôn loài ttrong thánh đạo.

 

Nghe chữ Địa, chúng ta tưởng ngay đến sức an nhẫn vô vàn, để chịu đựng bao nhiêu nghiệp chướng ương nghạnh đảo điên của muôn loài. Chúng ta tưởng ngay đến sức kiên lao nhẫn nại, kiếp này sang kiếp khác, nâng giấc dắt dìu từng con sâu con kiến đi dần về quả Phật. Thế cho nên ba đời Như Lai đồng tán ngưỡng, mười phương Bồ-tát cộng quy y. Thích Ca Mâu Ni Phật thỉnh ngài cùng tất cả phân thân nhiều như hạt bụi lúa mè tre lau, về cung trời Đao Lợi, để Ma Gia phu nhân từ đỉnh dục lạc của Ngọc Hoàng Thượng đế, cần biết những thống khổ của lửa vô gián địa ngục để tự thức tỉnh. Bởi vì bánh xa luôn hồi đâu có nể ai. Đại hội này đã thức tỉnh bất khả thuyết bất khả thuyết thiên tử.

 

Kinh dạy: Tam thiên đại thiên thế giới có bao nhiêu bụi, mỗi bụi tính là một sông Hằng, mỗi hạt cát của những sông Hằng này tính là một kiếp. Đức Địa Tạng chứng quả Thập địa đến nay đã lâu xa gấp bội ngàn lần. Trải thời gian không thể nghĩ bàn ấy, cứ một thân hoá làm vạn ức thân, mỗi thân độ vạn ức người. Kinh nói: Ai nghe tên đức địa Tạng một lần khen ngợi cúng dường, ai cũng được 100 lần sanh ở cõi trời an vui, không đoạ ác đạo nữa.

 

Như báu kim cang trong biển cả, có oai lực sanh ra các báu, không tăng, không giảm, không cùng tận, công đức của Bồ-tát cũng vậy.

 

Tạng: Cái kho như kho vàng, kho lúav.v...Tâm chúng ta gọi là tạng thức vì nó chứa đủ thứ hạt giống thiện ác, nảy nở thành chánh báo y báo, 4 thánh 6 phàm. Tâm thức của chúng ta còn có tên là Như Lai Tạng, vì tánh thể của kho là giác. Mai đây tu hành chuyển tất cả hạt giống trở về tánh Phật, tức là hoàn toàn thành Phật. Cái kho này rộng khắp mười phương, thường trụ suốt ba đời. Thái hư không kia ở trong tâm ta chỉ nhỏ như điểm mây chợt hợp chợt tan trong bầu trời, như mảnh phù âu chợt còn chợt mất trên biển cả. Huống chi các tinh tú nhiều như vi thần lửng lơ trong hư không. Tâm chúng ta bát ngát mênh mông không bờ bến. Đức Địa Tạng đã chứng được tâm này, sống với tâm này nên phát nguyện giác tỉnh cho tất cả chúng sanh đồng nhận được tâm mình. Bởi vì ngài thấy rõ tâm Phật và tâm chúng sanh đồng thể, không chút sai khác, nên quả quyết không để một chúng sanh nào ở lại đường mê.

 

Chân tánh hằng sa công đức nhưng chúng ta chẳng biết gì thì coi như của còn giấu kín trong kho. Đức Địa Tạng đã biết dùng nên ta người tiêu xài không tận, bởi vì kho vô tận nên báu lấy ra cũng vô tận.

 

Kinh dạy: Đời vị lai ai nghe danh hiệu Địa Tạng Bồ-tát mà chắp tay cung kính tán thán, sẽ thoát 30 kiếp tội khổ. Lại dạy: Tôi nhờ nghèo hèn, biết đây là tội báo nghiệp xưa, mong cầu sám hối. Nếu chí tâm chiêm bái hình tượng Địa Tạng Bồ-tát, 7 ngày chuyên niệm đủ 10.000 danh hiệu Bồ-tát, thì ngàn vạn đời về sau, hằng sanh nhà tôn quí, không đoạ ba đường ác.

 

Chúng ta thờ đức Địa Tạng, tay phải cầm gậy tích trượng, thân mặc cà sa, hiện tướng Tỳ-kheo. Vì chúng sanh đoạ lạc chỉ do sát đạo dâm vọng, cảm các khổ quả trong luân hồi. Ngoài truyền giới luật, lấy gì cứu vớt?

 

Tay trái cầm hạt minh châu tiêu hắc ám, phá vô minh. Địa ngục, ngã quỉ, bàng sanh, tam tai tám nạn cho đến vòng luân hồi từ vô thuỷ, dưới ánh sáng trí tuệ, chỉ là hoa đốm trong hư không.

 

 Đầu đội mũ Phật ( Tỳ Bà Thi Phật, Thi Khí Phật, Tỳ Xá Phù Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật, Thích Ca Văn Phật). Bảy đức Thế Tôn đại diện cho mười phương ba đời chư Phật. Tất cả tri kiến và hành sự của Địa Tạng Bồ Tát không rời pháp tam quy. Từ nguồn Tam-bảo chảy ra tất cả bổn nguyện bổn hạnh.

 

Bổn hạnh của ngài thì hằng hà sa nhưng đặc biệt người ta xưng tán 2 đức Hiếu và Nhân. Tiền thân ngài là một đức Bà-la-môn, đã vì mẹ niệm danh hiệu đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật, một ngày một đêm nhất tâm không loạn. Do đây bà mẹ thoát địa ngục được sanh lên trời.

 

Lại một kiếp khác, ngài cũng làm nữ nhân, cũng vì mẹ niệm danh hiệu Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Bà mẹ thoát địa ngục, được thân người nhưng phải làm con kẻ nô tỳ mà yểu thọ. Nữ nhân lại vì mẹ phát nguyện: Từ nay đời đời kiếp kiếp cứu vớt chúng sanh trong mười phương. Địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh, những tội nhân này thành Phật cả rồi con mới thành Phật. Nhờ nguyện lực này bà mẹ được sanh về cõi Vô ưu, hiện nay là Bồ-tát Giải Thoát.

 

Phật dạy: Này Tứ Thiên Vương! Bồ-tát Địa Tạng gặp kẻ sát sanh, dạy quả báo chết non. Gặp kẻ trộm cướp, dạy quả báo nghèo cùng khổ sở. Gặp kẻ hay gièm chê, gặp  quả báo lưỡi rụt miệng lở. Gặp kẻ sân giận, dạy quả báo thân hình xấu xa tàn tật. Như vậy Bồ-tát Địa Tạng ở cõi Nam Diêm-phù-đề, vận dụng trăm ngàn vạn ức phương tiện để giáo hoá chúng sanh.

 

Đức Phật lại bảo Bồ-tát Quán Thế Âm: trời người mệnh chung chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng, nghe danh hiệu đức Địa Tạng, sẽ được chuyển tăng phước báo về cõi trời, không đoạ ba đường ác. Nếu lại hương hoa cúng dường thì phước lợi vô biên. Sáu đạo chúng sanh được nghe danh hiệu đức Địa Tạng lọt vào tai lúc sắp chết, sẽ thoát ba đường ác. Người bệnh nặng hoặc mắt thấy, tai nghe, ý biết thân quyến mình tô vẽ hình tượng Bồ-tát Địa Tạng thì tội chướng tiêu trừ. Hoặc được sanh thiên, hoặc được khỏi bệnh. Nhưng ai từ tâm rộng lớn muốn thoát ba cõi, muốn cứu độ chúng sanh, nếu lễ bái thánh tượng, chuyên niệm hồng danh, sớm sẽ mãn nguyện, không bị chướng ngại. Những ai phát tâm cầu học kinh điển đại thừa nên nghiêm ttrì trai giới. Đặt một chén nước sạch trước tượng Bồ-tát một ngày một đêm, hướng về phương Nam trân trọng uống. Như thế bẩy ngày hoặc 21 ngày sẽ được thông minh sáng suốt, hiểu nghĩa nhớ lâu. Ai có những sợ hãi, ai có những mong cầu, cứ lễ bái hình tượng, tụng bổn nguyện kinh, niệm danh hiệu ngài sẽ được như ý.

 

Công đức hồi hướng cho pháp giới, quyết siêu sanh tử, sẽ thành Phật đạo.

Khi ấy Thế Tôn đưa cánh tay vàng xoa đỉnh đầu Bồ-tát Địa Tạng: Này Địa Tạng! Địa Tạng! Hãy nhớ hôm nay, tại cung trời Đao Lợi, Như Lai đem tất cả chúng sanh phó chúc cho ông, ông hãy giúp họ dần dần chứng đạo Vô-thượng.

 

Bồ-tát Địa Tạng chắp tay quỳ bạch: Cúi xin Thế Tôn chớ lo! Cúi xin Thế Tôn chớ lo! Chúng sanh nào đối với Phật Pháp có được một niệm cung kính, con sẽ tận tình hoá độ cho ra khỏi vòng sanh tử, rốt ráo không thoái lui đạo Vô-thượng Bồ-đề.

 

Xưng dương pháp hội Bồ-tát Địa Tạng:

 

Đao lợi Thế Tôn nói pháp mầu,

Địa Tạng công hạnh rất rộng sâu.

Thánh giáo mãi truyền lưu hậu thế,

Khắp độ nhân thiên thoát khổ đau.

Từ bi quảng đại diệu khôn lường,

Cứu khổ đường mê, Địa Tạng Vương.

Tích trượng rung vang khai địa ngục,

Minh châu soi sáng hết đau thương.

Hiện thân cứu tế u minh giới,

Pháp lực gương buồm Bát Nhã thuyền,

Tiếp dẫn quần sanh lên bờ giác,

Đường đường khắp phóng ngọc hào quang.

Địa ngục chưa không hề chẳng thành Phật

Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ-đề.

 

Nam mô đại bi đại nguyện đại hạnh đại từ bản tôn Địa tạng Vương Bồ-tát.

 

 

 

10.  NGÀY 06-08 GIỖ TỔ HUỆ VIỄN

 

Huệ viễn đại sư họ Cổ người Nhạn Môn, bẩm tánh hiếu học, đã thông Nho điển lại giỏi Lão Trang. Nghe Đạo An pháp sư thuyết pháp, ngài khen:” Nào ngờ Phật thừa thâm diệu”, liền xuất gia. Đạo An pháp sư thấy ngài chuyên cần, huyền ký rằng:” Phật pháp sẽ được lưu hành ở phương Đông do Huệ Viễn”.

 

Thấy cảnh Lô Sơn rộng rãi tĩnh mịch, phải nơi hành dậo, ngài bèn lập tịnh xá Long tuyền. Được ít lâu, học chúng theo ngài quá đông. Sơn thần báo mộng xin cúng cây gỗ. Sau một đêm mưa to gió bão, cây lớn trong rừng ngã xuống ngổn ngang. Quan Thứ Sử phát tâm dựng tòng lâm cho ngài, để hiệu là” Đông Lâm Thần Vận Tự”.

 

Tại Quảng Châu, những người đánh cá thấy trên mặt biển lấp lánh ánh sáng, bèn tìm đến xem và vớt được một pho tượng đức Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát rất đẹp, liền đem trình quan Thái Thú. Tôn tượng được cung nghinh về chùa Đồng Lâm, tôn trí ở nơi trang nghiêm riêng biệt, gọi là Bát Nhã đài.

 

Núi Lô Sơn có rất nhiều rắn độc, đã làm nguy hại đến tánh mạng dân cư trong vùng. Từ ngày cất chùa Đông Lâm, rắn dữ trở nên hiền lành, thường tới chùa nghe kinh.

 

Đời Đông Tấn, quan phụ chính Hoàn Huyền gởi cho đại sư hai văn kiện, yêu cầu thanh lọc hàng ngũ xuất gia và giải tán đạo tràng, lấy lý do là đạo phật hoang đường thiếu thiết thực, không lợi ích cho quốc gia.Trong thời gian ấy, tăng chúng nước Tàu bị bắt buộc hoàn tục rất nhiều. Đại sư phúc đáp bằng lời lẽ vững mạnh đích đáng, khiến cho riêng tỉnh Giang Tây, núi Lô Sơn, chẳng những sắc lệnh không thi hành được mà còn là nơi trung tâm Phật hoá tại miền nam.

 

 

Mấy năm sau, vua An Đế xa giá đến tỉnh Giang Tây, quan đầu tỉnh đến tận chùa, yêu cầu ngài xuống núi, nghênh tiếp vua. Đại sứ lấy cớ đau yếu khước từ. Hoàn Huyền lại giỏi văn thơ bắt buộc. Đại sư soạn văn” Samôn Bất Kính Vương Giả Luận” gần năm quyển để phúc đáp. Triều đình từ đấy nể trọng.

 

Nơi chốn đã yên, ngài đốc thúc đại chúng hành đạo, đào ao trồng sen. Trên mặt nước thả một bông gỗ 12 cánh, dùng định giờ để hành đạo gọi là liên lậu.

 

Dần dần những nhà đại tri thức mộ đạo, như Giác Hiền, Phật Đà Gia Xá, Lưu Di Dân, Vương Kiều Chi v.v... đến xin nhập chúng. tụ tập được 123 người, thành lập liên xã. Ông Lưu Di Dân làm bài văn phát nguyện khắc vào bia đá. Toàn hội tinh tấn hành đạo ngày đêm sáu thời, lần lượt đều chứng tam muội, đều được vãng sanh, lâm chung đều có thoại ứng.

Ngài từng nói: “ Các môn tam muội rất nhiều, nhưng dễ được mà công cao, duy có niệm Phật”.

 

Kinh luật lưu hành ở Lô Sơn đến gần trăm thứ. Ngài trứ tác bộ” Pháp Tánh Luận”, pháp sư Cưu Ma La Thập được xem, khen rằng:” Ông Viễn ở biên phương, chưa học Đại Niết Bàn Kinh, mà lời luận lại hợp lý”. Ngài trụ Lô Sơn hơn 30 năm, trọn không bước chân xuống núi. Ngày đêm chuyên tâm Tịnh-độ, lặng lòng quán tưởng, khước từ tất cả những liên lạc thế gian, nguyện giải quyết vấn đề sanh tử.

 

Một hôm có hai danh nhân. Một nho sĩ, một đạo gia, tìm đến yết kiến. Luận bàn khế hợp, đưa khách ra về, đại sư bất giác bước chân xuống cầu. Chợt nghe hổ rống, 3 người bừng tỉnh, nhìn nhau cả cười rồi chia tay. Người sau đặt tên dòng suối ấy là Hổ Khê. Trong Tây Phương Bách Vịnh, Nhất Nguyên đại sư có thơ rằng:

 

Tây phương cổ giáo Thế Tôn tuyên,

Đông độ khai tông, hiệu Bạch Liên.

Mười tám đại hiền làm thượng thủ,

“ Hổ khê tam tiếu” tới nay truyền.

 

Năm nghĩa Hy thứ 12, đêm 30-07 ngài nhập định nơi Bát Nhã Đài. Vừa mở mắt xuất định, thấy Phật A Di Đà giữa hư không. trong viên quang có vô số hoá Phật. Quán Thế Âm Bồ-tát hầu bên tả, Đại Thế Chí Bồ Tát hầu bên hữu. Phật và Bồ-tát đều ngự trên toà sen báu sáng đẹp, 14 tia sáng quanh lộn lên xuống như vòi nước, vang diễn những pháp khổ, không, vô thường, vô ngã và các môn ba la mật.

 

Đức Phật bảo ngài rằng:” Vì bổn nguyện lực đến an ủi ông, 7 ngày nữa ông sẽ sanh về nước ta”.

 

Ngài lại thấy những hội hữu trong Liên Xã đã tịch trước, như Phật Đà Gia Xá, Huệ trì, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân v.v...bước đến chắp tay chào: “Đại sư sớm phát tâm về Tịnh-độ”. Rồi ngài soạn quy chế để lại cho đại chúng. Ngày 06-08, ngài cáo biệt mọi người, đoan toạ viên tịch, thọ 83 tuổi.

 

 

 

11.  NGÀY 07-08 GIỖ TỔ ƯU BA LY

 

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhuỵ vàng.

Nhuỵ vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

 

Nam mô Ưu Ba Ly tôn giả, Luật tông đệ nhất Tổ sư.

Xem trong sách chúng ta thấy có 3 Tỳ-kheo Ưu Ba Ly.

 

I

Đức thế Tôn du hoá. một người gánh phân thuộc dòng hạ cấp tên Ưu Ba Ly, chợt gặp ngài, định bỏ chạy. Ngài nắm tay giữ lại, người kia sợ hãi kêu lên:” Con vốn dòng hạ tiện, xin đức Thế Tôn chớ lại gần con mà bị ô nhiễm, xin tha lỗi cho con. Ngài là dòng quý phái, chúng con đâu được phép gần”. Đức Phật dạy:” Bà-la-môn hay Sát-đế-lợi, nông dân hay công nhân đều từ sản đạo mà ra. Đâu có ai từ miệng phạm thiên ra đâu? Thân nào cũng gồm có 4 chất đất, nước, gió, lửa, đâu có ai khác. Bà-la-môn hay Sát-đế-lợi mà thân miệng ý ác thì hiện đời là ô nhiễm, pháp luật không dung, mạng chung đoạ về đương khổ. Dù nông dân hay công nhân mà thân miệng ý thiện lành thì hiện đời là thanh tịnh, mọi ngưòi quý mến, mạng chung đều về cõi trời. Ngươi có chịu vào đạo ta không? Cả 4 giai cấp đều có người vào trong đạo ta. Đạo ta không phân chia giai cấp, chỉ có một vị là vị giải thoát. Như 100 sông một khi đã chảy vào biển thì hoà đồng thành một vị mặn gọi là nước biển”. Người kia vui mừng sụp lạy xin xuất gia.

 

II

 

Có tám vương tử rủ nhau đia xuất gia, cởi bỏ đồ trang sức cho anh thợ cạo tên Ưu Ba Ly. Trên đường về, anh ta suy nghĩ:” Các vương tử đầy đủ hạnh phức thế gian mà buông xả hết để xuất gia. Vậy xuất gia hẳn phải cao quí lắm. Tại sao ta không mong cầu? Những thứ này họ xả bỏ, tại sao ta thu nhận?” Anh liền treo tất cả lên một cành cây. Rồi ba chân bốn cẳng chạy vội theo tám vương tử, xin cũng được xuất gia. Tám vương tử bảo nhau:” Chúng ta vốn dòng Sát-đế-lợi, Ưu Ba Ly là kẻ công nhân. Thói quen phân biệt giai cấp khó trừ, bệnh kiêu mạn đã sẵn ở trong dòng máu. Nay chúng ta nên nhường cho Ưu Ba Ly xuất gia trước, chúng ta thọ giới nhau. Như vậy bắt buộc chúng ta phải đảnh lễ Ưu Ba Ly là thượng toà, do đây chúng ta dễ dàng khiêm tốn”. Cả Ưu Ba Ly và tám vương tử đều chứng quả A-la-hán.

 

III

 

KINH LĂNG NGHIÊM: Ưu Ba Ly đảnh lễ chân Phật bạch rằng:” Chính con theo Phật vượt thành xuất gia, chứng kiến đức Phật sáu năm khổ hạnh, hàng phục tà ma, đối trị ngoại đạo, giải thoát các lậu thế gian, còn giữu giới ba ngàn oai nghi tám vạn tế hạnh, tánh nghiệp giá nghiệp thảy đều thanh tịnh. Thân tâm tịch diệt thành A-la-hán. Giữ giới tu thân còn là kỷ cương đệ nhất trong chúng. Phật hỏi viên thông, con do giữu thân, thân được tự tại. Con lại giữu tâm, tâm được thông suốt. Thân tâm thông lợi đó là hơn cả”.

 

Ba câu chuyện trên nói về ba ngài Ưu Ba Ly khác nhau. Chỉ có ở Kinh Lăng Nghiêm, đích thân ngài Ưu Ba Ly tự kể lại tiểu sử của mình, chúng ta tin được đây thật là đệ nhất Tổ sư về Luật tông của trái đất này.

 

 

12.  NGÀY 08-08 GIỖ TỔ ANAN

 

Anan là tiếng Ấn Độ, Tàu dịch là khánh Hỷ. Sanh sau Phật 30 năm, nhằm đêm Phật thành đạo. Ngài là con vua Hộc Phạn ở thành Ca Tỳ La Vệ, em ruột Đề Bà Đạt Đa, em con chú của đức Thích Ca. Tướng hảo tươi đẹp, thông minh tuyệt vời, 25 tuổi xuất gia. Đại chúng cử ngài làm thị giả Phật. Ngài nhận lời với ba điều kiện:

 

1)Không theo Phật đi thọ trai riêng nếu thí chủ không mời ngài.

 

2)Không mặc y thừa của Phật.

 

3)Không đến Phật phi thời.

 

Phật khen Anan khôn ngoan, biết tránh trước những cơ hiềm.

 

Anan còn được Phật khen ngợi một điều đặc biệt: Cả 4 chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-Ba-Tắc, Ưu-Ba-Di, ai thấy hình bóng Anan cũng vui mừng, ai được chiêm ngưỡng nghi dung càng vui mừng, ai được nghe Anan thuyết pháp lại càng vui mừng hơn.

 

Thuở ấy đức Thế Tôn ở nước Thích Xí Xấu, Ma-ha Ba Xà Ba Đề cùng 500 nữ xá-di xin Phật xuất gia. Phật không chấp thuận. Ngài Anan bạch: Nữ nhân xuất gia có thể chứng quả. Xin đức Thế Tôn mở cửa giải thoát cho họ. Do đây toàn thể Ni chúng được thành lập. Truyền mãi cho tới ngày nay, khắp châu Á, đã ba nghìn năm, Ni giới vần mát mẻ như vầng trăng sáng. trong khi đại tăng giáo hoá khắp năm châu như mặt trời chói chang nuôi dưỡng muôn loài.

 

Phật Niết-bàn rồi, đại chúng cử ngài Anan lên pháp toà, trùng tuyên lại những kinh Phật đã nói. Cả đại chúng đều sa nước mắt vì nghe ngài trùng tuyên không khác Phật một lời. Ai nấy ngậm ngùi vì chư Tăng vắng Phật như vòm trời toàn sao mà không trăng.

 

Một hôm ngài hỏi Tổ Ca Diếp: Đức Phật trao y bát, ngoài ra còn có pháp gì truyền riêng cho sư huynh không? Tổ Ca Diếp liền gọi: Anan! Ngài ứng đáp: Dạ! – Cây cột phướn trước chùa bị ngã.

 

Anan đại ngộ. Tổ Ca Diếp đọc kệ trao chánh pháp nhãn tạng cho ngài:

 

Pháp pháp bổn lai pháp.

Vô pháp vô phi pháp.

Hà ư nhất pháp trung,

Hữu pháp, hữu phi pháp.

 

Dịch ý:

 

Vạn pháp xưa nay vẫn từ chân tâm hiển hiện. Không có chi là thật pháp, cũng không có chi là phi pháp.

 

Về sau Thương na Hoà Tu thâm ngô diệu tâm, kế thừa ngài là Tổ thứ ba. Ngài trao bài kệ:

 

Bổn lai truyền hữu pháp,

Truyền liễu, ngôn vô pháp.

Các pháp tu tự ngộ.

Ngộ liễu, vô vô pháp.

 

Dịch ý:

 

Xưa nay vẫn có truyền pháp, truyền rồi lại nói không có pháp. Ai nấy cần tự ngộ chân tâm. Ngộ rồi, không phải là không có pháp.

 

Tổ Anan kết già thị tịch ở trên một chiếc thuyền lơ lửng giữa sông hằng. Bên bờ này vua A Xà Thế, bên bờ kia vua Tỳ Xá Ly, 2 vua đảnh lễ thỉnh ngài lưu lại thế gian không được, cùng nhau tổ chức lễ trà tỳ, phân chia xá lợi, xây tháp cúng dường.

 

 

13.  BÁNH TRUNG THU

 

Hoà-thượng BỬU LAI đãi Tu viện Hương Nghiêm rằm tháng 8 năm Đinh Mão(1987)

 

Phật pháp mênh mông như biển cả, chúng sanh tuỳ phận lượng mà hưởng thọ. Con voi, con muỗi cũng uống nước sông, tuy số lượng thâu nhập có ít nhiều khác nhau, nhưng sự đã khát thì đồng đều thoả mãn. Kinh Hoa Nghiêm Nói: “ Phật, tâm, chúng sanh tam vô sai biệt”. Chúng sanh tạo nghiệp chịu báo, khiến các trí tuệ đức vốn sẵn có bị che lấp. Vầng trăng tuy bị mây che, bản thể vẫn trong sáng. Cho nên Như Lai tận tình cứu vớt, tuỳ theo căn cơ đặt ra, nào Đại, Tiểu, Thiên, Viên, Quyền, Thật, Đốn, Tiệm... đủ thứ pháp môn. Chung quy không ngoài cái ý đưa chúng sanh ra khỏi nhà lửa sanh tử để trở về tâm thể bổn lai.

 

Thuyết thiện ác báo ứng, nhân quả luân hồi, phổ thông giáo hoá gây thành thuần phong mỹ tục cho các quốc gia.

 

Hiện nay ở Việt Nam, Phật giáo đang lưu hành 5 tông môn lớn:

 

1-Giáo tông chuyên giảng kinh thuyết pháp, hoằng dương Phật đạo.

 

2-Luật tông nghiêm chế ba nghiệp, thanh tịnh thân tâm.

 

3-Thiền tông chỉ thẳng nhân tâm, thấy tánh thành Phật

 

4-Mật tông trì chú Tổng Trì

 

5-Tinh-độ tông nhất niệm Phật, cầu sanh Cực Lạc, tựa hồ, là một tông phái riêng biệt, nhưng thật có bao gồm cả các tông trên.

 

Theo lý, pháp-thân A Di Đà là bản thể của tất cả pháp. Không một pháp nào, sự vật nào ngoài cái thể tánh A Di Đà. Vậy giáo tông giảng thuyết bao nhiêu cũng chỉ là giải nghĩa 4 chữ A Di Đà Phật. Nhất tâm niệm Phật, huân tập chủng tử Bồ-đề, chuyển vọng thành chân, tức là hợp với pháp tướng tông chuyển thức thành trí. Thật tướng niệm Phật, ly khai tâm ý văn tự, trực nhận chân tâm, tức là hợp với thiền quán. Tâm tịnh thì độ tịnh. Đã gọi là Tịnh-độ tông chẳng thể rời bỏ giới luật. Niệm Phật cho nhất tâm thì 4 chữ A Di Đà Phật chính là thần chú tổng trì của Mật Tông.

 

Ai cũng biết tất cả các pháp môn đều đưa đến một mục đích thành Phật. Nhưng các pháp môn khác đều nương tự lực như người đi bộ. Còn pháp môn Tịnh-độ nương nhờ thạ lực như có tàu xe, phí ít sức mà hạ lực nhiều, dễ thành công lại mau chóng. Phật A Di Đà như ông tài xế lái xe. Chẳng những có thế lực giúp chúng ta đới nghiệp vãng sanh( như kẻ què vẫn tới được) còn bảo đảm an ổn ngoại ma không quấy nhiễu( như thoát giặc cướp trên đường hiểm).

 

Chỉ có một điều là cần miên mật công phu, đi đứng nằm ngồi chớ quên niệm Phật. Lơ là thì chỉ được chút tịnh nhân chớ quyết nhiên không thể vãng sanh. Chúng ta đừng sợ Phật không đến rước, chỉ lo rằng: “ Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn. Tay lần tràng hạt dạ đâu đâu:. Như vậy không phải niệm Phật mà niệm ma, đã vời ma thì ma đến. Người niệm Phật phải tin chắc đức Thích Ca không nói dối, Phật Di Đà không nguyện suông, cõi Cực Lạc có thật, cảnh trang nghiêm chính đã từ công đức mà thành.

 

Cõi Ta Bà thật khổ nay nguyện thoát ly. Cõi An Lạc toàn vui nay nguyện sớm về. Tín nguyện này cần rắn chắc như kim cang, vững chãi như núi thái sơn. Vội vàng Niệm Phật, thiết tha niệm Phật như cứu lửa cháy trên đầu, như người bơi thuyền lánh nạn. Không thể dùng rằng trì hoãn, há còn có thì giờ ngao du ngắm cảnh.

 

Con heo thích ngủ ham ăn,

Muôn đời nối tiếp bán thân làm hàng.

Con người thích ngủ han ăn,

Muôn đời nối tiếp trôi lăn luân hồi.

 

Vậy xin đại chúng mạnh dạn thực hành đi. Hễ cõi Ta Bà đủ tín nguyện hạnh thời bên trời Tây hoa sen nẩy mầm tươi tốt. Thánh thai thơm ngát trong nước bát công đức sáng ngời. Sắc thanh hương vị xú siêu phàm, chính từ mỗi niệm mỗi niệm ta giác tỉnh thanh tịnh.

 

Ấn quang đại sư dạy rằng:” Chín cõi chúng sanh rời pháp môn này, chẳng thể viên thành Phật quả. Mười phương chư Phật bỏ Pháp môn này, không thể khắp độ quần sanh”.

 

-   Tay lần 108 hạt,

Diệt tội đẳng hà sa,

Xa lìa ba đường khổ,

Rực rỡ sen nở hoa.

 

 

Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.

 

 

-   Sống ái ngàn thước sóng

Biển khổ vạn trùng ba.

Muốn thoát khỏi luân hồi ngục

Sớm gấp niệm Di Đà.

 

Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.

 

-   Di Đà tướng tốt lạ lùng,

Hào quang chói sáng khắp cùng mười phương,

Từ bi oai đức không lường,

Sẵn sàng tế độ sáu đường chúng sanh.

Được thấy tướng, được nghe danh

Là nhờ kiếp trước căn lành trồng sâu.

Thế Tôn đủ phép nhiệm mầu

Chúng con muôn loại cúi đầu quy y.

 

Nam mô Tây phương An Lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.

 

 

 

14.  NGÀY 15-08-1981 TRĂNG LĂNG NGHIÊM

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Kính bạch trên Thầy! Kính thưa quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

 

Đêm nay ttrời vừa tạnh, trăng rằm tròn sáng. Tết trung thu khai mạc. Tụng kinh Dược Sư, mâm cỗ đủ 49 ngọn đèn rực rỡ. Chưa kể bao nhiêu ánh sáng từ trên bàn thờ toả xuống. Cỗ Trung Thu Liên Hoa năm nay thật to. Nên toàn chúng đã đồng lòng tình nguyện đem tất cả tới bệnh viện Thị Nghè chia cho cả ngàn người già trẻ lớn bé. Mỗi người một miếng bánh đã được trì chú Dược Sư. Kết duyên với 12 đại nguyện, mai sau có phần trong đạo quả Bồ-đề.

 

Chúng con khôn siết cảm động, không biết bao đời đã gieo trồng thiện căn, nay được dự hàng tăng chúng, thừa hưởng nền giáo lý tối thượng, đích thân học tập công hạnh Bồ-tát tự lợi, tự tha. Vì toàn chúng không được ăn cỗ nên Thầy chỉ dạy: Mỗi người phải góp một phần đề mục để cống hiến đại chúng vào ngày mừng trăng sáng. Còn Ty-kheo ni Huệ Nghiêm có bổn phận phải nói về mặt trăng Lăng nghiêm.

 

Mặt trăng thật năm nay chiếu, năm ngoái chiếu, sang năm chiếu. Từ hồi có trái đất, đến khi trái đất tan rã, mặt trăng vẫn luân thường chiếu. Sáng trăng phá đêm tối, dịu sức nóng, đem mát mẻ. Chân tâm thanh tịnh của chúng ta viên mãn thường trụ khắp pháp giới. Mê tâm là sanh tử, ngộ tâm là Niết-bàn. Phật và chúng sanh thể đồng, chỉ do tỉnh mê mà thành khác. Biết được tâm này, đốn đoạn mê căn từ lịch kiếp. Huệ năng ngộ được tâm này, liền ở núi Hoàng Mai khai đạo “ bản lai vô nhất vật”, lãnh y bát, làm Tổ thứ sáu. Ngộ được chân tâm, hằng sa tánh đức hiện tiền. Nên gọi là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm.

 

Mặt trăng thứ hai như người đè mí mắt nhìn lên mặt trăng, thấy bên cạnh có bóng loé. Mặt trăng của người này gọi là mặt trăng thứ hai. Mặt trăng này chính là mặt trăng thật, chỉ vì mí mắt bị đè nên thấy loé thêm một vòng sáng.

 

Thức tinh nguyên minh tuy chưa phải là chân tâm, vì còn đeo vọng kiến, nhưng thật không lìa chân tâm, vốn vẫn tịnh thường viên thông. Chính là nguồn sống hàng ngày chúng ta không thể rời, nó lưu lộ ở sáu căn. Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, tuy 6 công dụng khác nhau nhưng đồng một thể tinh minh. Như trong nhà chỉ có một đèn, ánh sáng toả ra khắp các cửa. Cửa có nhiều loại vuông, tròn, rộng, hẹp, cao, thấp. Ánh sáng toả ra 6 hình sai khác nhưng ở trong nhà chỉ có một đèn. Đêm tối ở xa muốn cầu đèn, cần nương một ánh sáng mà vào. Cũng thế, muốn trở về bản giác thường trụ diệu minh, nên y theo tánh thấy hoặc tánh nghe, một trong sáu căn, mà bội trần hợp giác. Trải bao kiếp sanh tử, tánh thấy tánh nghe không hề thay đổi. Vì là chân tâm nên vẫn thường trụ bất động.

 

Chúng sanh lấy động làm thân, lấy động làm cảnh, niệm niệm sanh diệt, quên bỏ chân tâm, điên đảo tạo nghiệp, oan uổng lưu chuyển, thật là đáng thương. Nhưng dù đoạ lạc ba đường hay thành thánh quả, tánh thấy tánh nghe vẫn không biến đổi.

 

Kinh Lăng Nghiêm dạy đó là Như Lai mật nhân, đích chỉ thức tinh nguyên minh là căn bản Bồ-đề.

 

Trăng đáy nước: Người ngu thấy dưới lòng nước có trăng, lao đầu xuống mò kiếm. Nhọc sức luống uổng mà còn phải chịu cái khổ chết chìm. Chúng sanh từ lịch kiếp lầm nhận vọng tưởng phân biệt duyên theo 6 trần làm tâm. Suốt đời vất vả mưu cầu hạnh phúc hão huyền, kết cuộc chẳng nắm bắt được gì. Tâm phan duyên nuôi ba độc tham sân si, đưa đến sát, đạo, dâm, vọng để trầm nịch luôn hồi, không biết đến bao giờ mới ngóc đầu ra.

 

Muốn thưởng thức ánh trăng diệu tịnh minh tâm, Phật Tử hãy nghe lời kinh dạy: Các ông đem duyên tâm nghe pháp thì chỉ được pháp duyên chớ chẳng được pháp tánh. Như người lấy tay chỉ mặt trăng. Nếu cứ khư khư ngó ngón tay, cho ngón tay là mặt trăng, thì đâu chỉ mất mặt trăng, người ấy mất luôn ngón tay, mất cả sáng và tối.

 

Tụng kinh không lo vào tri kiến Phật, sống với bổn diệu minh tâm. Cứ tự cho tụng niệm là bổn phận, thì chẳng những không minh tâm kiến tánh mà còn không biết kinh là gì, đến nỗi mất phần trí tuệ, lại còn không biết chỗ ngu tối của mình.

 

Muốn vào tri kiến Phật, trước hết phải xa lìa tri kiến chúng sanh. Cần bỏ tay ấn mắt, để thấy mặt trăng thật. Việc đầu tiên là phát tâm Bồ-đề. Chớ tham luyến trần duyên. Trăng đáy nước là một bóng ảnh giả, chỉ có tướng sáng mà không có lực dụng chiếu soi phá tối. Vọng tâm do nhân duyên sanh. Nhân là nghiệp. Duyên là 6 trần. Như người có nghiệp tham, thấy tiền liền khởi tâm ăn cắp. Người ngu si sống với vọng tâm, không giác tỉnh với sáu căn huyễn hoá, 6 trần ảo ảnh, 6 thức mê lầm, khởi tưởng chấp ta chấp cảnh, rông rỡ sát, đạo, dâm, vọng. Khổ báo chướng nạn chẳng thể trở về chân tam bản tánh, pháp-thân thường trụ.

 

Phải ngửa lên nhìn trăng thật, nghĩa là vận sức trí tuệ quay về sống với bổn giác, khi ấy sẽ thấy năm ấm hư vọng vốn là Như Lai Tạng.

 

Trong đếm dài sanh tử, muôn loài chìm đắm. muốn trở về nhà phải nương mặt trăng thứ 2, tức là tinh nguyên minh, làm nhân địa tu hành để vong trần hợp giác. Dĩ nhiên phản văn cũng như tát cả các pháp môn khác, trước hết cần nghiêm trì giới luật, thâu nhiếp 6 căn.

 

Kinh chép: Ngài Xá Lợi Phất than rằng:” Thương thay! Những kẻ mò trăng đáy nước đến nỗi chết chìm”. Phật đáp:” Đúng thế! Thật đáng thương sót! Nhưng đáng thương hơn nữa là kẻ chấp rằng vũ trụ không trăng”.

 

Thế gian tìm hạnh phúc nơi căn trần huyễn ảo, mở ra sáu đạo luân hồi, ba đường đau khổ, quả tình đáng thương. Nhưng nhị thừa đắm chấp Niết-bàn thiên không, đâu biết đến cái vui phước tuệ trang nghiêm Vô-thượng Bồ-đề. Trong các kinh thường có sự so sánh: A-la-hán nhiều như lúa, mè, tre, lau không bằng công đức một người phát tâm quy nguyên.

 

Trước khi dứt lời, vì không quên vô số sinh linh đang quằn quại trong vòng hoặc nghiệp khổ, chúng con phát nguyện cố gắng và cố gắng hơn nữa, nương ánh sáng trí tuệ và gương mẫu từ bi của chư Phật, Bồ-tát, tìm về ánh trăng chân thật để trên đền bốn ân, dưới cứu khổ muôn loài.

 

Đây là món quà trung thu con kính dâng lên Thầy và đại chúng chứng minh.

 

 

15.  NGÀY 20-08 BIỆT KHOÁ GIỖ TỔ PHÙNG KHOANG

 

1.Đảnh  lễ đấng vô thượng Từ Tôn. Bởi vì tuệ giám không xa nên chúng con tàn dung hữu hạnh ( 1 lễ).

 

2.Phật nhập Niết-bàn, ngót 3 ngàn năm, Ni chúng bình an tu hành như vầng trăng tròn sáng không mờ, toàn nhờ công đức Ananđà tôn giả (1 lễ)

 

 

3.Những ai có duyên nhất thừa nên nhớ công phu Long Nữ trực nhận Phật tánh chân tâm, mà cố gắng thông suốt ba pháp quán để vong tình tiến bộ (1 lễ)

 

4.Lại nguyện Đại Ái Đạo tôn giả không xả từ bi, thầm gia hộ lậu chất biến thành tam muội chất (1 lễ).

 

 

5.Da Du Đà La tôn giả, trí quang soi tỏ, cô tâm chuyển thành lục hoà tâm. Khiến cho Pháp tử chúng con, cây đạo thêm cao, bình an cát khánh, ví như hàng trăm hạt ngọc được mài giũa thành những chuỗi minh châu thanh tịnh trong sáng ( 1 lễ)

 

 

Trầm hương vừa bén lửa

Xuân giới ngào ngạt thơm,

Vần vần kết mây lành

Gần xa đều mông huân.

Thiền vị diệu thường chân tánh.

Tôn sư linh giác hiện thân.

 

Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát ma-ha-tát. (3 lần)

 

Hoa tươi Hương ngát, ánh đèn đuốc sáng,

Đối trước di ảnh, chúng con xưng tán:

Núi tuyết trinh trắng giữa hồng trần,

Hoàng Mai lửa tuệ khác nhân gian.

Huyện Hoàn Long , nước 8 công đức thanh lương.

Phủ Hoài Đức, năm phần chân hương thắng diệu.

Mảnh đất Phùng Khoang chân như trụ.

Rừng hoa Liên Phái học nhiều môn.

Hôm nay khải thỉnh trước thiền sàng,

Nguyện Tổ chứng tâm mà giáng phó,

 

Nam mô Độ Nhân Sư Bồ-tát ma-ha-tát ( 3lần).

 

BỞI VÌ

 

Có minh tâm mới kiến tánh

Muốn thỉnh Tôn Đức lai lâm

Cần phải trai diên khiết tịnh.

 

( Một chén nước nhỏ, một cành lá, vừa bắt ấn vừa đọc:)

 

Cúi đầu quy y Tô Tất Đế,

Đầu mặt đảnh lễ thất câu chi,

Con nay xưng tán Đại Chuẩn Đề,

Duy nguyện từ bi thuỳ gia hộ.

 

Nam mô tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đề câu chi nẩm, đát điệt tha. Ám, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề, sa ba ha ( 3 biến).

 

( vừa rẩy nước vừa đọc:)

 

Trời Nam một vị mưa pháp chan hoà,

Âm dương đồng gội ân đức tam-ma,

Phước thọ tăng gia Thanh Xuân nở hoa.

 

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ-tát ma-ha-tát (3 lần)

 

THIẾT NGHĨ

 

Tâm tánh viên minh, thần quang chiếu diệu. Muốn đạt cảnh giới trang nghiêm, cần phải ngát hương giải thoát. Hương này Bắc Châu gây giống, Nam Hải tưới nhuần. Giáng cách thoát tục, thể chất phi phàm. Quang sáng nguy nguy hơn nhật nguyệt Tốt tươi cánh triệt cả sơn hà. Đốt không ra khói ngạt ngào thường cúng dường đất Tam-bảo. Thiêu không tan rã, viên thông giao cảm suốt bốn trời thiền. Cúng kính thắp chân hương bảo triện, ngưỡng vọng linh giác Tôn sư.

 

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ-tát ma-ha-tát.

 

KHÍNH NGHE

 

Hoa ưu đàm báo điềm lành, hương phước quả bay rất xa. Rõ biết chân như, không còn kia đây sai khác. Ngay tại một chỗ, đâu có phân biệt thánh phàm. Tây phương tuy thật xa nhưng nhất chân tịnh diệu vẫn thấu suốt. Nam Hải tuy chẳng gần nhưng mộy niệm tịnh thành vẫn cảm thông. Cổ đức dạy: Sợi chỉ cây kim khó đáp nên chỗ thấy chỗ hiểu phải đúc thành chí khí. Áo bát tín thí khôn đền nên giới định tuệ phải nhuận thân hiện tại.

 

Trải chiếu cỏ thơm, vọng về Thanh Xuân, chí thành tín chắc, đấng hư linh biến hoá vẫn thầm thông ngầm cảm.

 

Nam mô bộ bộ đế rị, già rị đá rị đát đa nga đa gia ( 3 biến)

 

I

 

NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH:

 

Tây Phương Vô Lượng Thọ, Đông độ Thích Ca Văn, cầm giây vàng khai đường giác, dùng bè báu độ bến mê.

 

Thân phụ ở làng Phương Liệt họ Nguyễn danh gia, thân mẫu người Hoàng Tổng vốn công nương thế phiệt. Nhỏ tuổi đã theo mẹ vào cửa thiền. Đến lớn vẫn đề huề trong Thích Giáo.

 

Dù ở chỗ đông vui, trông lên mây vần biến đổi trên trời. Nhàn nhã nơi thanh vắng, nhìn xuống, kìa vẫn bóng trăng đáy nước. Đốn liễu thiền cơ, cuộc đời giấc mộng. Ngắm cảnh phát minh lý duy tâm. Lòng thấm Phật đạo, xu hướng xuất gia. Đây là chỗ dung chứa như biwnr cả nạp trăm sông. Đây là nơi giải thoát như hư không hàm vạn tượng.

 

Nam mô Xuân Phương tháp, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, Tôn sư thiền toạ hạ.

 

Duy nguyện quang giáng thiên đường chứng minh cúng dường.

 

HƯƠNG HOA THỈNH

 

II

NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH:

 

Quán Thế Âm Chí đồng bạn, trong ao bát đức tắm mát, chín phẩm sen vàng tiêu dao. Cạo đầu nhuộm áo chốn Thanh Xuân, 16 tuổi tam quy ngũ giới. Ân cần học hỏi, như giáo phụng hành, thọ Sadini Thức xoa năm 18. 21 tuổi lên ngôi vị Thanh-văn. Tiến tu đội luật mang bình, cung kính giữ phận con em. Đi đứng nằm ngồi, nhất nhất không dám trái lời Sư Phụ.

 

Thân thừa huyền châm chùa Liên Phái. Ba tháng hạ luật thân thắng tiến, sáng tỏ thiền đăng, pháp thuỷ chan hoà. Sáu tháng thu dạy chúng toạ thiền, khai pháp tịnh khiến Thanh Xuân hoa nở.

 

Thảnh thơi một mình, nương tựa bảo tướng liên hoa. Nhàn nhã an vui chuỗi tràng niệm Phật.

 

Nam mô Xuân Phương tháp, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, Tôn sư thiền toạ hạ.

 

Thiền đường bóng nguyệt nay đâu vắng? Trên trời xanh mây trắng vãng lai. Duy nguyện Tôn sư giáng phó thiền đường chứng minh cúng dường.

 

HƯƠNG HOA THỈNH

 

III

 

NHẤT PHỤNG TÂM THỈNH:

 

Thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát, thiện bạn đề huề, ra khỏi nguồn sâu phiền não, lên bờ kia tới Bồ-đề.

 

Đẹp thay Thanh Xuân, khung trời cõi phạm! Nhưng thế sự vô thường, bóng quang âm qua mau. Chỉ niệm Di Đà không chi khác, móng tay chưa gảy, đã tới Tây Phương.

 

Năm Mậu Tuất tháng 8 ngày 20, Tôn sư quy Tịnh-độ.

 

 

Nam mô Xuân Phương tháp, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, Tôn sư thiền toạ hạ.

 

Thần thức đã vượt khỏi nhân gian vô thường, duy nguyện quang giáng thiên đường chứng minh cúng dường.

 

HƯƠNG HOA THỈNH

 

IV

NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH

 

Nam Thiên pháp lữ, phước địa thiên đồ, xuất gia tu đạo, bậc Thầy thông luật, Yết ma Giáo thọ trượng đường, Hoà-thượng Xà-lê nghiêm toạ. Khắp cùng mười phương. Tỳ-kheo-ni, Thức xoa ma na, Sadini, Ưu-Bà-Di, 7 chúng Phật tử, những người khai sáng già lam, thí đất, thí ruộng, đào giếng, đắp đường, lịch đại luỹ kiếp gia nương, nhất thiết chư vị giác linh thiền toạ hạ.

 

HƯƠNG HOA THỈNH

 

V

 

NHẤT TÂM PHỤNG THỈNH:

 

Bồi triệu ân sâu, sanh thành đức hậu. Dưới thềm lan nhã, cây non nở hoa ưu đàm. trong đám hoè quế, bỗng nhiên mọc cây Bồ-đề.

 

Nội ngoại đồng khí liền cành, cao thấp trước sau quyến thuộc, nguyện đều phát tâm xuất thế. Xưa kia mỗi kẻ một đường, nay cầu đồng sanh An dưỡng.

 

Cung duy Tôn sư gia tiên tổ khảo Nguyễn Thuần Tích, Phủ quân.

Tổ tỷ Đỗ Thị Cẩm hiệu Diệu Vạn, Nhũ Nhân.

Thứ mẫu Tạ Thị Nẫm hiệu Diệu Minh, Nghi nhân.

Tôn sư gia tiên tổ khảo Hoàng Thuần Nghi, Phủ quân.

Tổ ty Trương Thị Yêm hiệu Diệu Viên, Nhũ nhân.

Khắp cùng cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, trùng trùng quyến thuộc các hương hồn.

Duy nguyện giáng phó thiền đường chứng minh cúng dường.

 

HƯƠNG HOA THỈNH

 

VI

 

Hồng chung trong không cốc vang xa, tất cả hữu tình đều nghe tiếng. Duy nguyện giáng phó thiền đường chứng minh cúng dường.

 

HƯƠNG HOA THỈNH

 

Pháp tử:( tên) dập đầu phụng hiến lễ bạc:

 

-   Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ lô chỉ đế, ám tam bạt la tam bạt la hồng ( 7 biến).

-   Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát diệt tha. Ám tô rô tô rô, bát la tô rô, bát la tô rô, sa bà ha( 7 biến)

 

Món ăn sắc hương vị, trên cúng mười phương Phật, dưới cúng các Tổ sư khắp đến 6 đạo phẩm, cúng dường không sai biệt. Tuỳ duyên đều đầy đủ. Khiến người bá thí, được vô lượng ba la mật.

 

-   Ám nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật la hộc ( 7 biến).

-   Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ-tát ma-ha-tát ( 3 lần).

 

SỚ VĂN

 

Tín căn nhất niệm, linh giác chứng minh, cung dâng văn sớ, kính xin tuyên đọc:

 

Mây sớm mưa chiều, dòng sông sanh tử xuôi xuôi chảy. Pháp thuyền đưa chúng con lên bờ giác, hôm nay rời bến đi đâu.

 

THIẾT NIỆM

 

Bổn sư một đời chăm tu thắng nhân vô lậu, vì đã tỉnh mộng huyễn hữu vi. Nay thoát lồng ba cõi, trở về đất tịnh, báo địa diệu cực trang nghiêm. Hiếu đồ chúng con tâm thành cung thỉnh Tôn sư linh giác, ma ha Tỳ-kheo-ni Bồ-tát giới, huý Thường Nga, pháp danh Đàm Uyển, hiệu Minh Mẫn Trinh Trinh, quang lâm Linh Quang Ni Viện, chứng minh cúng dường.

 

Duy nguyện Tôn sư đạt liên cung thượng phẩm, ngự cảnh An Dưỡng quê hương, phước tuệ nghiêm thân, ấn Tổ lưu truyền, đèn Phật sáng trưng mãi mãi.

 

Tấc dạ đan thành thống thiết, đệ tử chúng con khấu đầu đảnh lễ tam bái thượng sớ.

 

Đốt sớ( tụng Bát Nhã Tâm Kinh).

 

Bát Nhã ba la diệu tối linh,

Đại bi vô ngại nhuận quần sinh.

Không không ngũ uẩn đại thần chú

Nhất điểm linh tâm triệt diệu minh.

Nam mô Quán Tự Tại Bồ-tát ma-ha-tát.

 

Nay trai diên thâu kết, Tôn sư nhẹ gót đường mây.

Đạp bỏ hồng trần như dép cỏ

Đào hoa nước chảy chẳng quan tâm.

Ái hà rửa chân lên bờ giác,

Tịnh-độ chuyên tâm hướng kim đài.

 

Nam mô Sanh Tịnh Độ Bồ-tát ma-ha-tát.

 

 

 

16. NGÀY 19-09 QUÁN ÂM THỊ KÍNH

 

QUÁN ÂM: Quan sát âm thanh kêu khổ để cứu vớt.

 

THỊ KÍNH: Thời xưa, đặt tên đàn ông dùng chữ Văn, đàn bà dùng chữ Thị để phân biệt.

 

KÍNH: Nghiêm cẩn không buông lung. Hễ sống đúng với chữ kính là đã xong được nửa đường đạo. Kinh Phổ Môn dạy: Bất luận nội chướng hay ngoại chướng, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ-tát đều được giải thoát.

 

BẢN HẠNH: Công hạnh từ lúc tu nhân. Như Quán Âm Thị Kính đặc biệt tu hành nhẫn nhục. Quán Âm Nam Hải đặc biệt tu 2 hạnh tinh tấn và từ bi.

 

TỰA

 

1.CHỈ ĐƯỜNG CHÁNH GIÁC

 

PHẬT: Tự giác, giác tha, giác hành viên mãn.

 

-   Tự giác: Thândo đất, nước, gió, lửa giả hợp thành hình. Lầm chấp ta người, mở ra ba độc tham, sân, si. Tạo những nghiệp sát đạo dâm vọng để tự chiêu vời quả báo luân hồi sanh tử. Giải thoát vô minh, trở về sống với chân tâm bản tánh gọi là Giác.

-   Giác Tha: Đem chỗ đã tự giác, dạy người chưa biết.

-   Giác hành viên mãn: Trọn vẹn 2 điều trên.

 

2.MỘT NIỆM VÔ MINH

 

Kinh dạy: “ Vạn pháp duy tâm:. Luận Khởi Tín giải thích: Muôn sự muôn vật ở thế gian cho đến cả Phật pháp cũng đều do tâm tạo. Chữ Tâm đây nói là vọng tâm. Giữ tâm chân chánh thì thành Phật. Một niệm sằng bậy là ươm một nhân xấu, sẽ kết trăm ngàn quả khổ. Cũng như một hạt đa nẩy mầm phát triển thành một cây đa.

 

Mỗi năm sẽ có bao nhiêu quả. Nhân quả sinh sôi nảy nở như thế nên người tu cần chánh niệm mới mong thoát trầm luân. Đức Thích Ca hiện thân một mỹ nữ để thử một tu sĩ. Thay vì từ chối thẳng, tu sĩ đáp:” Có chăng kiếp khác hoạ là. Kiếp này sợi chỉ chót đà buộc tay”. Thế là hứa hẹn một kiếp sau. Vọng tâm chưa dứt tuyệt nên phải tái sanh làm thân con gái. Kinh Lăng nghiêm dạy: Nếu còn tơ hào tâm dâm dục không thể hy vọng giải thoát.

 

3.NHÂN DUYÊN HỘI NGỘ:

 

Thị Kính sắc đẹp nết ngoan, Thiện Sĩ tài học hơn người. Đôi bên cha mẹ vun vào nên thành gia thất. Để biết tài và sắc là 2 thứ thế gian mê say hám chuộng thật chẳng phải là gốc hạnh phúc.

 

CHÁNH TÔNG

 

1.GIẢ HỢP GIẢ LY:

 

Nhân duyên đã thuận thì làm sao tránh quả báo ràng buộc. Phật dạy: Tâm làm chủ, tâm dẫn đường, tâm đưa lên thiên đường, tâm đưa vào địa ngục. Các Tổ đinh linh dặn dò: Cẩn thận chớ buông lung ba nghiệp. Với thế gian thì không gì sung sướng bằng vợ chồng hoà hợp. Ai thấy cảnh bà Thị Kính chẳng khen ngợi thèm thuồng, chẳng reo hò nhảy nhót đổ xô nhau vào. Con mắt Phật thấy là tấn tuồng ảo hoá, một giấc chiêm bao.

 

Canh khuya Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, ngả lưng bên cạnh thị kính. Thấy hàng râu của chồng cạo chẳng được đều, cô cầm dao con cúi xuống định sửa. Chợt Thiện Sĩ mở mắt hô hoán:” Cắt cổ giết người”. Bà mẹ chồng bước vào ấn định ngay: “ Cô này đã mắc vào người nào khác nên muốn hại chồng”. Vội vàng trả cô về nhà cha mẹ ruột.

 

Ngán thay chữa dép vườn dưa,

Dù ngay cho mấy cũng ngờ là gian.

 

Thế là tan hạnh phúc! Bậc trí tuệ chẳng ham sung sướng, chẳng sợ khổ đau, cứ thuận theo lẽ phải. Như vậy mới có thể sống ung dung tự tại, chết giải thoát siêu thăng.

 

2.DỨT NỢ TRẦN DUYÊN:

 

Thị Kính gặp cảnh éo le, chợt tỉnh mộng đời, quyết chí đi tu. Biết cha mẹ không chấp thuận. Cô đành giả trai, trốn nhà đi xa, tìm vào Vân Tự, được Sư cụ đặt tên là tiểu Kính Tâm.

 

Đây là cốt tuỷ bộ bản Hạnh này. Tâm Lý con người, hễ chán thì ruỗng rẫy ghét bỏ, hễ thích thì gần gũi vơ vào. Cả hai cực đoan này đều có sức mạnh. Người trí tuệ biết thích cái hay, kết quả đi đến thanh cao tự tại. Kẻ ngu thích bậy, kết quả tạo ác đoạ lạc. Trí tuệ trạch pháp thật là quan hệ. Người biết bản tánh là Phật, tu Phật hạnh sẽ về cảnh Phật. Tin được như thế sẽ chán dục lạc thế gian, rửa sạch tham sân si. Tự mình giác tỉnh, lại đem đạo lý soi tỏ cho người. Cùng nhau bỏ lối gai rậm, lên đường quang minh.

 

3.THIÊN ĐƯỜNG, ĐỊA NGỤC:

 

Vâng lời nâng cảnh thượng phương

Khêu đèn Bát Nhã, dóng chuông tham thiền.

 

Bà Thị Kính thảnh thơi vui cùng Phật Pháp. Kinh dạy: Ái là gốc sanh tử luân hồi. Mắc vào nó thì khốn khổ ê chề. Ra khỏi nanh vuốt nó thì an vui vô cùng.

 

Trong làng có cô Thị Mầu, thấy tiểu Kính Tâm:

 

Đã lồng ba tấm cà sa

Nhưng người tiên vẫn trông ra khác phàm.

 

Đăm đăm tưởng nguyệt mơ hoa, lại bị người dụ dỗ nên thất tiết mang thai, bị làng bắt vạ. Cô đổ cho kính tâm là cha đứa bé. làng tra hỏi, Kính Tâm biết nếu nói thật là gái thì đâu được ở chùa ( ngày ấy chưa có chùa sư nữ). Kính Tâm đành chịu đòn đánh mà không chịu thổ lộ cái lý do duy nhất có thể giải oan.

 

Thầy Mạnh Tử nói: Người ta chết vì an vui mà sống vì hoạn nạn. trời định giao việc lớn cho ai, tất làm cho lao khổ điêu linh. Người tu hiểu chân lý nên hằng ngâm câu:

 

Xá chi một đứa dại khờ,

Nước tuỳ duyên rửa đi cho kẻo mà.

 

Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hoà.

Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.

 

4.VÌ ĐỨC HIẾU SINH:

 

Thị Màu bị cha mẹ bức bách bắt đem con vứt trả cho Kính Tâm. Thấy đứa hài nhi nằm trơ trong vườn như cá cạn nước, Kính Tâm đành ẵm vào làng xin sữa. Thấm thoát thằng bé lên 3 thì Kính Tâm hết tuổi thọ:

 

Gọi con từ giã mọi đường,

Bút hoa để lại đôi hàng biệt ly.

 

Bút thư Kính Tâm xin tạ lỗi cùng cha mẹ, được Sư Phụ cho người đưa về quê hương.

 

5.HOA ĐỐM TRONG HƯ KHÔNG

 

Làng bắt cha con Thị Mầu lo việc tang ma. Phần thì hổ với xóm làng, phần thì cha mẹ đay nghiến, cô nhục nhã tự tử.

 

Cha mẹ Thị Kính được thư vội vã đến chùa Vân.

 

Ngẩng trông ba thước hồng la,

Lệ tuôn như suối, lòng sầu như mây.

 

Sáu năm không được tin tức, nay gặp mặt lại là một xác chết. Đám tang xong, chùa làm chay cầu siêu độ.

 

6.VĂN KẾT

 

Ai hay pháp Phật nhiệm mầu,

Có khi Thiên Trúc ở đâu cũng gần.

Giữa trời một đoá tường vân

Đức Thế Tôn hiện toàn thân xuống đàn.

Truyền cho nào tiểu Kính Tâm

Phi thăng làm Phật Quán Âm tức thì.

Độ cho cha mẹ hai thân,

Đài sen đã sẵn đợi ngày bước lên.

Siêu thăng thoát cả một nhà

Từ đây phước đẳng hà sa vô cùng.

Liên miền Cực Lạc hội đồng,

Cả làng khi ấy mắt trông rành rành.

Rõ ràng lành ắt được lành,

Nam mô đức Phật, tu hành thành công.

 

 

HAI BỨC TRANH

 

Sự tích trên đã vẽ song song hai bức ảnh: Thị Kính và Thị Mầu.

 

Cùng là con gái mới lớn lên, cùng xuất thân nơi gia đình đài các danh giá giàu có, cùng theo đạo Phật, cùng khốn khổ vì tình ái. Chỉ vì tri kiến khác nhau mà cuộc đời trở thành khác hẳn. Cho tới kiếp sau, một lên toà sen một vào địa ngục. Thật đáng ngậm ngùi sót thương.

 

I

 

Vì đâu thị Mầu đem ô nhục cho cha mẹ, để xấu hổ cho họ hàng? Vì đâu cô phải tự tử, mở ra kiếp kiếp đoạ đày? Phật dạy: Một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại. Như rùa mù tìm bọng cây trong biển cả, thật khó lắm thay!

 

Cổ nhân nói:” Cái sẩy nẩy cái ung”. Một vọng tưởng không đâu, nếu biết là hư vọng thì nó tự tan. Nếu lầm nhận là mình, lồng mình vào, thì thành kết sử. Mắt cô chạm vào sắc tiểu Kính Tâm, khởi lòng luyến ái. Nếu biết là vọng tưởng thì nó tan ngay. Vì cô nhận là mình, cho là mình ưa thích nên bị sai sử, đưa vào tội lỗi.

 

Đã tà dâm lại dối cha mẹ. Tới khi làng xét xử, vẫn còn hy vọng làng bắt Kính Tâm thành gia thất với mình nên một mực vu oan. Kính Tâm chịu đòn tan da nát thịt, đau thấu tới xương. Nếu không có lời từ bi xin nộp vạ của Sư Phụ thì đã mất mạng.

 

Phú ông bắt đem con trả cho bố nó, cô cũng đem con bỏ ngoài hiên chùa, mặc cho Kính Tâm muốn nuôi hay bỏ tuỳ ý. Suốt ba năm trời Kính Tâm chịu oan tình, cả làng sỉ vả, Thị Mầu tổn đức biết bao nhiêu. Quanh co dối trá đến cùng vẫn không thoát quả báo nhãn tiền, cô phải tự tử.

 

Cô mới đôi tám xuân xanh, tức là mới có 16 tuổi. Kinh Pháp Cú có câu:” Phàm phu không giác ngộ, đi chung với cừu địch một đường”. Thị Mầu nhận vọng tưởng tham dục là mình, cùng với ngã ái đi chung một đường nên bản thân khốn khổ, gia đình đắng cay, xóm làng phiền nhọc. Kiếp này khổ, kiếp sau khổ, khổ sở lâu dài. Đáng thương biết ngần nào.

 

II

 

Bà Thị Kính bị cha mẹ chồng trả về gia đình. Đối với phụ nữ Á Đông, đây là một tủi nhục nặng nề đã khiến bao người tự tử. Nhưng đối với tầm mắt bà thì:

 

Nực cười cái chuyện cỏn con,

Bỗng không mà nổi lên cồn thái sơn.

 

Vì có trí tuệ Bát Nhã, bà thấy rõ thị phi của thế gian như sáu con rồng mú rối, chẳng đáng bận lòng. Bà tìm giải thoát nơi cửa Phật.

 

Tới khi Thị Mầu vu oan, dân làng đánh đập. Sư cụ không cho ở trong chùa, đuổi ra ngoài cổng tam quan, cha mẹ xa xôi không hy vọng tái ngộ. Một thân cô đơn sống dưới con mắt khinh bỉ của thôn xã. Bổn đạo trong ngoài đều trỏ ngón tay:

 

Tiểu kia tu có trót đời được đâu.

 

Trong hoàn cảnh rất mực khó khăn, bà chỉ kết luận:

 

Xá chi một đứa dại khờ

Nước tuỳ duyên rửa đi cho kẻo mà.

Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hoà,

Nhẫn đều khó nhẫn mới là chân tu.

 

Rồi bà quay về:

 

Bạn cùng thanh phong minh nguyệt,

Lấy hoa đàm đuốc tuệ làm vui.

 

Con mắt giác tỉnh, không oán thù mà tha thứ xót thương. Bởi thấy rõ xấu ác là dại khờ. Kẻ mê để cho hoàn cảnh chi phối, sống như cái máy, biết gì mà ta oán chấp. Bậc tu hành tuỳ duyên nhẫn cảnh. Thế giới không hoa, thân người mộng huyễn. Vạn pháp vô thường đâu có thể cậy trông. Chỉ quay về bổn phận mình, nhẫn nhục nhu hoà, noi gương Phật tổ.

 

Kinh Kim Cương nói: Nhẫn nhục chẳng phải nhẫn nhục. Ấy mới thật là nhẫn nhục. Nếu còn thấy có nhục để phải nhẫn thì khó mà nhẫn được lâu dài. Nên mới biết tới đây Bát Nhã của bà Thị Kính đã ba la mật đa.

 

Những tưởng an thân nơi mái tam quan, vui với thiền tư kinh kệ, thì cơ duyên khe khắt lại khéo xui Thị Mầu đem con để ở hiên chùa rồi bỏ đi. Nghĩ rằng:

 

Mạng người khôn lấy làm chơi mà liều.

 

Cho nên:

 

Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.

 

Sư Cụ Bổn sư thấy thế ấn thêm cho một câu:

 

Như vậy thời Thầy cũng nghi.

 

Hàng ngày bế con đi xin sữa khắp làng. Mẹ vò nuôi con nhện, đã bao cực nhọc khó khăn. Lại thêm tiếng bấc tiếng chì đằng đẵng 3 năm. Thiền sinh mà nuôi con mọn, bám víu bế ẵm ngày đêm. Những người chuyên tu mới hiểu nỗi khó khăn này. Thật là hy sinh tới chỗ cùng tột, hy sinh cả sự giải thoát. Nhưng ngài tin Phật, thực hành đức hiếu sinh, lấy vâng lời Phật làm vui.

 

Kinh Pháp Hoa nói:” Muốn nhập Phật tri kiến phải ở nhà từ bi, mặc giáp nhẫn nhục, ngồi toà pháp không”. Nay nuôi con oan gia mà đầm ấm tình máu đào, chứng quả Vô-thượng Bồ-đề.

 

Lời bình của cụ Thiền Chửu

 

Cha mẹ nuôi con, công lao khó nhọc như trời biển. Nhưng giọt máu của mình, mình thương yêu nâng niu, dù vất vả nhọc nhằn mà vẫn có mối tình đầm ấm, khiến cho vui vẻ. Còn tiểu Kính Tâm mẹ gà con vịt, tiếng nọ điều kia, mỉa mai nhục nhã. Thế mà bà vâng theo Phật Tổ, thực hành chủ nghĩa xả thân cứu thế, chẳng quản vất vả, chẳng ngại chê cười. Nước lã coi như huyết nhục. Công quả này trời bể khôn tầy, chỉ Bồ-tát hiểu Phật pháp mới làm nổi.

 

Đức Thích Ca thiền định trong rừng. Vua Ca Lợi chặt cả tay chân. Không những không giận ngài còn an ủi:” Bao giờ đắc đạo, ta sẽ độ vua trước nhất”. Ôi Rộng rãi bao la, từ bi vô ngại! Lời nói ai nghe mà không mủi lòng cảm động.

 

Nhẫn nhục của bà Thị Kính tới đây thật đã thuần tuý. Không đợi Phật thọ ký, chúng ta cũng biết bà sẽ chứng quả Vô-thượng Bồ-đề.

 

 

 

 

 

16.  DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI 30-09

 

( Kinh Dược Sư cùng các giải nghĩa đã in riêng)

 

Phương đông là nơi bình minh loé sáng phá tan đêm dài. Từ phương Đông ánh hồng quang tia chiếu khắp làn mây , khiến cho trời đen trở thành trong xanh, sương lạnh biến thành hạt trai, lóng lánh trang điểm khắp lùm cây bụi cỏ.

 

Từ phương Đông luồng điện sinh khí truyền khắp người vật, kiến sâu, hoa lá, núi sông...nên phương Đông đứng chủ sự sinh hoạt. Hải hội Dược Sư Phât Bồ-tát từ phương Đông toả từ bi lực về cõi Ta Bà. Thật ra tất cả mười phương đều có hằng sa Tịnh-độ, mà Phật nào chẳng cứu tử độ sanh. Nhưng cổ lệ Á Đông từ hồi nào vẫn đặc biệt giao trách nhiệm tiêu tai diên thọ cho đức Dược Sư ở phương Đông. Còn tiếp dẫn người mất thì đặc biệt gửi đức A Di Đà về phương Tây. Đó là cốt cho kẻ sơ tâm có nơi y cứ và người giản dị dễ hiểu mà thành tựu định tâm.

Đức Dược Sư tên là Lưu Ly Quang. Hai vị Bồ-tát hầu cận tên là Nhật Quang và Nguyệt Quang. Cúng dường quý ngài phải 49 ngọn đèn. Bởi vì cần ánh sáng trí tuệ mới có thể cứu bệnh tận gốc. Bát Nhã Kim Cang từ tâm  địa lưu ly phát ra mới có thể thanh trừ vô minh cố tật.

 

Kinh dạy: “ Bảy ngày thọ bát quan trai giới, thân sạch sẽ, miệng ăn chay, tâm không tham dục, không giận hại ai, đối với hết thảy hữu tình khởi tâm lợi ích an vui, từ bi hỷ xả, bình đẳng hoà nhã, tụng kinh Bổn Nguyện Dược Sư, suy nghĩ nghĩa kinh rồi đem diễn thuyết khai thị cho người. Thế thì tuỳ ý cầu gì cũng được, cầu sống lâu được sống lâu, cầu giàu có được giàu có, cho tới cầu đại Niết-bàn được đại Niết-bàn.

 

Bất luận sự gì không hợp lý đều gọi là vô minh. Phật là giác sát phiền não, giác ngộ giải thoát vô minh. Hễ thanh trừ vô minh thì cầu gì cũng được. Tám vạn bốn ngàn trần lao đều từ vô minh khởi. Nên Giới Định Tuệ có thể giải tất cả oan, gỡ tất cả kết.

 

Nam mô tiêu tai diên thọ Dược Sư Phật.

Nam mô tuỳ tâm mãn nguyện Dược Sư Phật.

 

 

17.  VÔ NGÃ

 

“ Những bất hoà thường do thói quen dành phần phải về mình, có bao nhiêu sai quấy đổ cho người”. Chị em đọc sách, thấy đúng như vậy, cùng nhau quyết định từ nay bất cứ vấn đề gì, trách nhiệm hàng đầu của mỗi người là tự giác lỗi mình và khám phá cho ra những khía cạnh tốt của đối phương. Thế là yên chí hoà bình bảo đảm.

 

Nhưng lần lượt việc này việc khác xảy ra, Họ tranh nhau nhận lỗi và rốt cuộc một cơn bão cấp 10 xuất hiện. Họ kết luận:” Quỷ tha ma bắt tất cả những phương thức đạo đức đi! Cứ đừng làm bậy là hơn cả”.

 

Không tìm được gốc của lỗi lầm thì chẳng thể thành công trong việc sửa mình.

 

Không kết quả hẳn trở lại báng các pháp môn tu là vô ích.

 

Hạ mình xin lỗi, nhường cái phải cho người là biểu tượng thánh hiền. Nhưng nếu không biết gốc của thánh hiền là giác tỉnh, không tập quan sát vô thường vô ngã. Cứ mải lo dán mấy câu của sách vở vào đầu, đến nỗi bị ngay những chữ nghĩa này nó bịt mắt.

 

Đổi tranh chấp thế gian thành tranh chấp đạo đức. Hai tướng ngã nhân còn đối lập thì vẫn nuôi dưỡng tham sân si. Tư tưởng thánh hiền bị tra hình, người bị lừa chính là mình. Kết quả là những cơn bão cấp mười đâu có lạ!

 

Trở lại tuyên bố:” Không cần biết có lỗi hay không lỗi, chỉ một việc là đừng làm bậy nữa”. Lập trường này e nguy hiểm. Con người mấy ai sáng suốt. Phàm phu giơ tay cất bước tội đã ngang mày( kinh địa tạng). Cho nên cần thấy lỗi, cần sửa lỗi để dần dần trở thành không lỗi. Như thân nhơ bẩn nên đi tắm. Cứ như thế trọn đời, người này được coi là sạch sẽ. Tâm chúng ta cũng thế! Hôm nay lỡ lầm một câu nói sai, một hành động quấy, chúng ta tự giác xin sám hối. Thời gian sau lại tham lại sân, chúng ta lại sám hối. Cứ như thế trọn đời, tu sĩ này được Phật chấp nhận là thanh tịnh. Sám là rửa sạch việc đã qua. Hối là tiếc đã trót lỡ, nay cố gắng không tái phạm. Phiền não kết tập từ vô thuỷ, như cây đa cổ thụ đâu phải một nhát búa đã hạ được ngay. Phải tỉa dần dần. Nhưng đã có công mài sắt hẳn đã có ngày nên kim. Chúng ta vâng lời Phật, một mặt tự giác thấy lỗi lo sám hối. Đó là đẽo chặt cành lớn cành nhỏ. Một mặt quán vô thường, vô ngã để nhổ tận gốc vô minh. Các kết sử theo đây mà bật rễ. Trong không chấp ngã, ngoài không chấp pháp, bảo đảm bình an.

 

Nguyện cầu đại chúng thành công trong sự nghiệp Quán Tự Tại.

 

 

18.  HỮU DỤNG, VÔ DỤNG TUỲ CHỖ BIẾT DÙNG

 

Ngày 02-05 âm lịch( 1983), được tin chính xác vào năm 1984 quyết định các chùa phải giải tán số đông. Phân vân không biết cho các em tiếp tục chương trình cũ hay nên dùng nửa năm vàng ngọc này để tu học một môn cần thiết. Nhìn ra thấy cuốn Triết Học Phương Đông, thử bói một quẻ. Vào bài này, ghi tạm để suy ngẫm:

 

Phạm lãi bỏ nước Sở, vượt biển sang làm giàu ở đất Đào, đổi tên là Đào Du Công. Người con trai thứ còn lại ở nước Sở, bị bắt cầm tù.

 

Chu Công lấy 1000 nén vàng sai con út đi lo. Con cả đòi đi, Chu Công không nghe. Cậu con cả nói:” Việc quan trọng mà cha sai con út, thế ra con cả vô dụng”. Cậu toan tự sát. Bố bất đắc dĩ cho đi, bảo cậu đem vàng và thư đến người bạn cũ là Trang Sinh, dặn dò:” Mặc ông ta xếp đặt. Cẩn thận đừng tranh khôn với ông ta”.

 

Trang Sinh, nhà ở ngoại thành, vườn rau đơn giản. Cậu cả làm theo lời cha. Tranh Sinh nhận vật rồi đáp:” Anh nên về ngay. Em sẽ được ra. Anh đừng ở lại đây”.

 

Cậu cả ngầm ở lại, tìm đến một nhà quyền quý ở Sở để nghe ngóng. Tranh Sinh thong thả vào cung, tâu vua Sở: Sao Mỗ đóng chỗ Mỗ có hại cho Sở.

 

-Làm thế nào?

-Chỉ dùng Đức mới trừ được.

-Xin thầy về nghỉ, quả nhân sẽ làm theo. Liền sai sứ giả niêm phong ba kho tiền.

 

Thường lệ nước Sở, mỗi khi đại xá tù nhân, thường dùng ba kho tiền để phát cho tù nhân có lương thực đi về quê. Tin xắp có âm xá đồn vang.

 

Cậu cả cho rằng nếu có lệnh đại xá thì thế nào em mình cũng được tha. Ngàn vàng cho lão trang sinh phí uổng. Cậu trở lại gặp Trang Sinh. Trang Sinh giật mình: Anh chưa về à?

 

-Thưa chưa, con tới đây vì việc thằng em. Nay nó sắp được lệnh ân xá nên con đến chào cụ để về.

 

Trang Sinh biết ý cậu muốn lấy lại vàng, liền trả lại. Hôm sau Trang Sinh lại thong thả vào tâu vua Sở:

 

-Tôi trước có nói về ngôi sao Mỗ. Vua hứa sẽ sửa đức để lợi dân. Nay tôi nghe đồn rằng: Vua không phải vì thương nước Sở mà ra lệnh đại xá đâu. Chỉ vì thằng con Chu Công đem vàng đút lót các quan hầu vua đó thôi.

 

Vua Sở cả giận gia lệnh xử tử con Chu Công rồi mới đại ân xá. Cậu cả đưa xác em về. Chu Công nói: Ta đã biết, từ nhỏ nó chịu khổ nhọc làm ăn nên không thể dửng dưng với ngàn vàng. Còn thằng út đẻ ra đã giàu. Cưỡi xe rong ngựa, theo đuổi cầy cáo, phung phí tiền bạc, nào có biết từ đâu mà có. Vì thế hôm trước ta quyết định sai thằng út, chỉ vì nó biết coi thường ngàn vàng. Thằng cả thì không thế nên đã vô tình giết em.

 

Dùng vào việc làm giàu thì thằng cả hữu dụng. Dùng vào việc cứu đứa con thứ thì thằng út hữu dụng. Gỗ tốt thì làm cột kèo, gỗ xấu thì làm củi.

 

Bậc trí tuệ biết sử dụng hợp tình hợp cảnh nên hằng được lợi ích. 

 

 

---o0o---

 

Mục Lục  > I > II > III > IV > V > VI > VII

---o0o---

Vi tính: Quảng Tuệ Hương & Quảng Trí Lực

 Trình bày: Anna

Cập nhật: 10-2007

 

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

Xuân có đi có đến Cần Thơ Hòa thượng Thích Huệ Thành BS Bà n các phật tử tin tưởng gì lan dạ hòa vu lan những ngày cuối Tiểu đường làm 1 5 triệu người chết Ä áº gui ban ngay tan the hang ngu phat tu thuong duoc chia la phat tu tai Huyết áp đo sao cho đúng tượng phật bị đánh cắp tẠp vai loi khuyen cho tuoi tre Thầy 5 yếu tố dự báo nguy cơ bệnh tim mạch Vesak Rau lang nhuận tràng tin tam bat hoai Vận là m quá đại Các Gởi vãn lam Viết cho anh người em yêu thương lÃ Æ tt huế lễ húy kỵ Ôn kim tiên chuong ix so tham ve hue lam va quan thien luan Bún ba Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm Bậc danh tức japan điểm đến mùa thu lãng mạn Món ngon bổ dưỡng cho người ăn kiêng huế luâ n ba n vê ranh giơ i giư a mê va Thanh long giảm béo chữa ho Lúc Làm Hạnh phúc ThÃ Æ Ăn chống gãy xương tản C