NỘI DUNG.
Thay lời nói đầu
Nhập thất
Thiền là gì?
Hành động
Nghệ thuật
Ảo giác
Ràng buộc
Ngã
Thời gian
Sống
Chết
Thiên Nhiên
Ðạo
Vô tri kiến
Thiền định
Ngộ
Tâm trí sơ tập
Tâm trí thông thường
Tâm không
Hư không
Như nhất
PHỤ LỤC I
PHỤ LỤC II
THƯ MỤC TƯ LIỆU
.
CẨM NANG SỐNG THIỀN
Soạn giả: Nguyễn Ước
NXB Văn Hóa Thông Tin, Quí II, 2007 43 Lò Ðúc – Hà Nội

THIÊN NHIÊN


Hi vọng và sợ hãi không làm thay đổi sự sang mùa
CHÔGYAM TRUNGPA
 

Thiên nhiên là cái nó đang là — phi luân lý và bền bỉ.
STEPHEN JAY GOULD
 

Tôi van anh chớ tìm kiếm cái gì đằng sau các hiện tượng. 
Tự thân mỗi hiện tượng là bài học của chính nó.
GOETHE

Thiên nhiên không mô phỏng hình dáng và tính cách của con người.
LÃO TỬ
 

Gió lướt qua cỏ và cỏ rung, không hiểu sao làm tôi xúc động.
KATHERINE MANSFIELD
 

Ðứng trên mặt đất trần trụi... cái tôi đáng ghét biến mất. Tôi trở thành đôi con ngươi trong suốt; tôi là hư không; tôi thấy tất cả; luân lưu quanh tôi là những luồng năng lực của Hiện thể Vũ trụ. Tôi thuộc về Thượng đế hoặc là một mảnh cuả Thượng đế.
EMERSON
 

Con người cãi nhau,
Vạn vật chỉ thao tác.
VOLTAIRE
 

Hãy cầm, dù một chiếc lá xanh, theo cách nó biểu thị hình hài của Ðức Phật, thì bạn sẽ khiến cho Ðức Phật biểu thị qua chiếc lá ấy.
ÐẠO NGUYÊN
 

Ngoại trừ suốt chín tháng trước khi thở hơi đầu tiên, không ai xử lý việc đời giỏi như cỏ cây.
GEORGE BERNARD SHAW
 

Thật hay ho khi nhân thức bằng cảm tính. Bạn không là gì cả. 
Bạn hoàn toàn không là gì cả khi bạn ở gần núi lửa.
KATIA KRAFFT
 

Mỗi cá nhân có một lối diễn tả về toàn bộ cảnh giới thiên nhiên vốn là hành động độc nhất của toàn bộ vũ trụ.
ALAN WATTS
 

Không bông tuyết nào rơi sai chỗ.
LỚI THIỀN
 

Không có gì vô dụng trong thiên nhiên, kể cả chính sự vô dụng.
MONTAIGNE
 

Thiên nhiên không có mục đích dù nó có qui luật.
JOHN DONNE
 

Thiên nhiên không có hạt cũng chẳng có vỏ, 
nó có cả hai thứ cùng một lúc.
GOETHE
 

Dù bạn thích hay không, dù bạn biết hay không, trong thầm kín vạn vật tìm kiếm Thượng đế và hoạt động hướng tới Ngài.
MEISTER ECKHART
 

Tôi tin Thượng đế, tôi chỉ đánh vần chữ đó là Thiên nhiên.
FRANK LLOYD WRIGHT
 

Thế giới không được đặt trong trật tự, thế giới là trật tự hóa thân. Ðiều đó khiến chúng ta tự đặt mình hòa hợp với trật tự đó.
HENRY MILLER
 

Thế giới được tích nạp đầy sự vĩ đại của Thượng đế.
SANTAYANA
 

(Có những kẻ) chỉ muốn tránh chỗ huyên náo, bỏ nơi hoạt động, cố phá cái tướng, tách từng mảnh bụi của mọi vật để tìm hiểu biết. 
Làm như thế tuy chỗ tĩnh lặng cốt ngộ lý không, nhưng không biết đó là cái lối chôn vùi chân tính, lấp mất chân giác.
HƯƠNG HẢI
 

Ðối với một tâm trí đần độn, thiên nhiên xám xịt như chì. 
Ðối với một tâm trí minh mẫn, toàn bộ thế giới bừng cháy và lóe sáng.
EMERSON
 

Cha tôi xem việc đi dạo trong vùng núi ngang với việc đi lễ nhà thờ.
ALDOUS HUXLEY
 

Mực không thể bảo ánh sáng hãy chiếu sáng tôi ngay lúc tôi rẽ vào rặng núi. Tôi cảm thấy [đủ] mạnh để nhảy vọt lên tường thành Yosemite.
JOHN MUIR
 

Thiền sư Huyền Sa (835-908)
Thiền sinh: Tôi có thể đi vào Thiền ở nơi nào?
Huyền Sa: Ngươi có nghe tiếng suối đang róc rách không?
Thiền sinh: Thưa tôi có nghe.
Huyền Sa: Vậy hãy đi vào đó.
 

Con đường sáng sủa nhất để đi vào vũ trụ thì qua hoang vu rừng rậm.
JOHN MUIR
 

Núi Alpe có cái gì đó không giống núi Hi mã lạp, cái gì đó không thấy và không biết, cái sức mê hoặc tràn ngập từng giờ từng phút khi ta ở trong núi, một bí ẩn gợi thích thú và gây xao xuyến. 
Ðối diện với Hi mã lạp sơn, con người buông xã hết mọi sự thường tình, nhận ra rằng mình bất tử và mình có khả năng tồn tại vượt qua mọi thay đổi, mọi hư hoại, toàn bộ sự sống và toàn bộ cái chết.
FRANK SMYTHE
 

Ở trong cây vốn sẵn có lửa 
và vì có lửa nên nó lại sinh lửa. 
Nếu bảo rằng cây không có lửa 
thì tại sao khi cọ xát cây vào nhau lại sinh lửa.
KHUÔNG VIỆT
 

Những gì tôi biết về thần học và Kinh thánh là những gì tôi học được trong rừng và trên cánh đồng.
THÁNH BERNARD
 

Hãy nói với đất, nó sẽ dạy ngươi.
GIÓP 12:8
 

Quả đất, bằng cả ngàn giọng, đang ngợi ca Thượng đế.
COLERIDGE
 

Thế giới đang tràn ngập sự vĩ đại của Thượng đế.
GERARD MANLEY HOPKINS
 

Thật hạnh phúc nếu chúng ta nghiên cứu thiên nhiên nhiều hơn bằng những vật tự nhiên, và hành động theo thiên nhiên mà các qui luật của nó vốn ít, dễ hiểu và hợp lý nhất.
WILLIAM PENN
 

Tuy bí ẩn nhưng không có gì siêu nhiên trong toàn bộ hệ thống cứu chuộc chúng ta; 
mọi phần của nó đều có nền tảng thao tác và sức mạnh của thiên nhiên, 
và toàn bộ sự cứu độ của chúng ta chỉ là đặt đúng với thiên nhiên 
hoặc làm cho nó hiện hữu đúng như nó phải hiện hữu.
WILLIAM LAW
 

Ao xưa
Nước kêu 
Khi con cóc nhảy xuống.
TÙNG VĨ BA TIÊU
 

Khắp mọi nơi, không nơi nào chẳng phải tâm Phật.
THIỆN HỘI
 

Ánh bình minh nơi cửa sổ làm tôi mãn nguyện hơn những lý thuyết suông trong sách.
WALT WHITMAN
 



ÐẠO

Ví bằng lấy sắc thấy Ta,
lấy thanh âm tìm Ta,
đấy là người thi hành tà đạo,
không thể thấy được Như Lai
KINH KIM CƯƠNG
 

Hiểu thấu tâm mình để tu luyện Ðạo thì bớt khó nhọc mà dễ thành tựu.
Không thấu hiểu tâm để tu luyện Ðạo thì phí công mà vô ích.
THƯỜNG CHIẾU
 

Một vị tăng hỏi Thiền sư Chân Không (946-1001):
- Ðạo mầu nhiệm như thế nào?
Thiền sư trả lời:
- Sau khi giác ngộ mới biết.

Ai tìm kiếm chân lý bằng phương tiện của trí thức và kiến thức thì chỉ càng ngày càng xa chân lý cho tới khi ý nghĩ của y ngưng mọi phân rẽ vào nơi này chốn nọ, cho tới khi y buông bỏ mọi ý nghĩ tìm kiếm cái này cái kia, cho tới khi tâm trí y im lìm bất động như gỗ đá, lúc ấy, y đang ở đúng trên đường tới Cửa Ðạo.
HOÀNG PHỐ
 

Tôi kinh hãi bởi kẻ muốn "biết" vũ trụ khi hắn không tìm nổi lối ra khỏi Phố Tàu loanh quanh.
WOODDY ALLEN
 

Tôi đã tìm kiếm qua nổi loạn, ma túy, ăn kiêng, các chủ thuyết thần bí, các tôn giáo, thuyết duy lý, và nhiều nữa... chỉ để bắt đầu nhận ra rằng chân lý, một cách cơ bản, thì mộc mạc — và là các cảm giác tốt lành, tinh sạch và chính đáng.
CHICK COREA
 

Mọi thứ hỗn hợp đều phân rã, 
hãy cần cù tiến hành cuộc cứu khổ cứu nạn mình.
ÐỨC PHẬT
 

Ðiều kinh hoàng nhất là chấp nhận hết thảy cái tôi.
CARL JUNG
 

Cái tôi bảo tôi là tôi,
Con tim bảo tôi ít hơn tôi,
Tâm linh bảo: mày chẳng là gì cả!
THEODORE ROETHRE
 

Cùng tắc biến, biến tắc thông.
LÃO TỬ
 

Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần,
Sạch rồi nước lại trở về chân.
THÔNG GIÁC
 

Bạn phải ra hết sức năng nổ. 
Suốt cuộc đời này, có thể bạn không bao giờ chắc chắn rằng mình sống đủ lâu để thở thêm một cái.
HOÀNG PHỐ
 

Nếu bạn không ngừng bước thì có đi chậm tới mấy cũng chẳng thành vấn đề.
KHỔNG TỬ
 

Vua Di-lan-đà nói với Na-tiên ti-kheo: Tôi sắp nêu câu hỏi, thầy có trả lời được không?
Na-tiên ti-kheo: Xin bệ hạ cứ đặt câu hỏi.
Nhà vua: Tôi hỏi rồi.
Tì-kheo: Thần trả lời rồi.
Nhà vua: Thầy trả lời ra sao?
Tì-kheo: Bệ hạ hỏi gì?
Nhà vua: Ta chẳng hỏi gì.
Tì-kheo: Thần chẳng trả lời gì cả.
 

Chỉ sống thôi, không cần phải cố gắng sống.
DAVIS VISCOTT
 

Ai cũng biết đạo nhưng không mấy người thật sự đi theo đạo.
BỒ ÐỀ ÐẠT MA
 

Thiền sư Vân Môn Văn Yển (864-949) 
Có một nhà sư hỏi: Ðạo là gì? 
Vân Môn trả lời: Ði tiếp đi.
 

Nếu bạn đi theo thế giới trước mắt, bạn sẽ quay lưng với con đường Ðạo; 
Nếu bạn không quay lưng với con đường Ðạo thì bạn đang đi theo thế giới ấy.
TRẠCH AM TÔNG BÀNH
 

Có đích nhưng chẳng có đường; 
cái chúng ta gọi là đường thì chỉ chập chờn.
FRANKZ KAFKA
 

Thiền, cái quan trọng nhất là nó đẩy những điều trái ngược nhau tới giới hạn tối hậu của chúng, ở đó người ta phải chọn giữa sự khật khùng và sự ngây thơ. Và Thiền gợi ý rằng chúng ta có thể tiến tới cái này hoặc cái kia trên kích cỡ vũ trụ. Tiến tới chúng vì, cách này hoặc cách nọ, chúng ta, cả người khật khùng lẫn người ngây thơ, đều đã ở đó.
 

Cách tốt nhất là tròn xoe mắt mà ngó.
THOMAS MERTON
 

Ðạo kia tuyệt đối không mầu,
Cùng chung Nhật Nguyệt mỹ miều sáng tươi.
Hằng hà sa số bầu trời,
Trong ngoài đâu chẳng là nơi quê nhà.
THƯỜNG CHIẾU
(Nguyễn Ðăng Thục dịch)
 

Chân lý gõ cửa 
và bạn bảo: "Ði đi, tôi đang tìm kiếm chân lý đây," 
và như thế nó đi ngay.
ROBERT PIRSIG
 

Người ta càng ngày càng xa dần nhà thờ và trở về với Thượng đế.
LENNY BRUCE
 

Con mắt tôi nhìn Thượng đế cũng chính là con mắt Thượng đế nhìn tôi.
MEISTER ECKKHART
 

Hoa vàng rực rỡ, không đâu không là tâm Bát-nhã.
Trúc biếc xanh xanh, hết thảy đều là lý chân như.
TRẦN THÁI TÔNG
 

Hãy tin những kẻ đang tìm kiếm chân lý; đừng tin những kẻ tìm thấy chân lý.
ANDRÉ GIDE
 

Vô Môn Quan: Một tập sách gồm 48 công án Thiền được Thiền sư Vô Môn Huệ Khai hợp tuyển, vào đầu thế kỷ 13 (sau Bích Nham Lục một trăm năm). Sách bắt nguồn từ bài kệ:
Ðạo lớn không cửa
Ngàn sai có đường
Cửa kia qua được 
Ðất trời riêng bước.
(Trần Tuấn Mẫn dịch)
 

Nếu có kẻ muốn mình tương thuộc vào cái giá trị khả hữu và lớn lao nhất đối với đồng loại, hãy để y bắt đầu công cuộc cô đơn và dài đăng đẳng là làm hoàn hảo bản thân.
ROBERTSON DAVIES
 

Ðừng tìm cách đi theo bước chân của người xưa, hãy tìm kiếm cái mà họ đã tìm kiếm.
TÙNG VĨ BA TIÊU
 

Hãy yêu Thượng đế và làm điều ngươi muốn.
AUGUSTINÔ
 

Chúng ta nhảy múa loanh quanh và giả dụ
nhưng cái Bí mật ngồi ở giữa và biết.
ROBERT FROST
 

Bích Nham Lục là tập sách quan trọng nhất trong Thiền tông, song song với Vô Môn Quan. Sách do Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần, vào đầu thế kỷ 12, hợp tuyển 100 công án.
Công án đầu tiên "Thánh đế đệ nhất nghĩa" có bài tụng:
Thánh đế rỗng thênh
Làm sao biết trúng
Ðối trẫm là ai,
Lại bảo chẳng biết.
Nhơn đây đêm sang sông
Há khỏi sanh gai góc.
Người cả nước mới chẳng trở về
Muôn đời ngàn đời nhớ nhau rỗng
Thôi nhớ nhau
Gió mát khắp nơi nào có tột.
(Thích Thanh Từ dịch)
 

Lối ra nào cũng có một lối vào ở đâu đó.
TOM STOPPARD 
 

Con đường chân chính thì đi theo sợi dây không giăng trên bất cứ độ cao vời vợi nào, mà chỉ giăng san sát mặt đất. Dường như nó có ý làm cho người ta trượt chân hơn là làm cho người ta đi trên đó.
FRANK KAFKA
 

Nếu kẻû nào muốn con đường hắn đang bước dè dặt từng bước là chắc chắn, hắn phải nhắm mắt lại và đi trong bóng tối.
GIOAN THÁNH GIÁ
 

Có chết thì có sinh và có sinh thì có chết. 
Chết làm người đời buồn và sinh làm người đời vui. 
Buồn vui đều vô cùng vì thế bỗng dưng thành chuyện này chuyện nọ. 
Chẳng nên bận tâm khi đối mặt với sinh tử (vì) án tố rô tố rô tất rị.
TRÌ BÁT
 

Sở hữu một lối đi sáng tỏ cho mình là nguồn cảm hứng của mỗi người trong cuộc sinh tồn đầy mây xám và giông bão này.
JOSEPH CONRAD
 

Khi trò sẵn sàng thì thầy xuất hiện.
CÁCH NGÔN PHẬT GIÁO
 

Thầy mở cửa nhưng trò phải tự mình bước vào.
CÁCH NGÔN TRUNG HOA
 

Có ai đó trình bày nó cho tôi và tôi tự mình tìm thấy nó.
LEW WELCH
 

Kinh nghiệm thì giết chết thơ ngây đồng thời làm ta thơ ngây trở lại.
JAMES BALDWIN
 

Khởi đầu, có một thời chúng ta tin mọi sự mà không cần lý do, 
ít lâu sau, chúng ta tin với sự phân biệt, 
rồi chúng ta không tin vào bất cứ cái gì, 
và rồi chúng ta lại tin mọi sự — và thêm nữa, chúng ta đưa ra lý do tại sao mình tin mọi sự.
G.C. LICHTENBERG
 

Tại sao lại dạy loài vật sống dưới nước uống nước.
CÁCH NGÔN TÂY PHI
 

Hành trình của mỗi tri thức, nếu y theo đuổi cuộc hành trình đủ dài và đủ vững vàng, thì rõ ràng sẽ kết thúc từ nơi những phi tri thức không bao giờ khuấy động.
ALDOUS HUXLEY
 

Ðạo Toàn hảo chỉ khó khăn đối với những ai lựa lọc. 
Ðừng thích hoặc đừng không thích; lúc ấy mọi sự sẽ sáng tỏ. 
Hãy tác động đường tơ kẽ tóc thì Trời Ðất sẽ tách làm đôi.
TĂNG XÁN
 

Thượng đế có mặt khắp mọi nơi
Thượng đế là thiên thần trong một thiên thần,
là hòn sỏi trong một hòn sỏi
là cọng rơm trong một cọng rơm.
JOHN DONE
 

Ngạc nhiên, thắc mắc, là bắt đầu hiểu.
JOSÉ ORTEGA Y GASSET
 

Tôi thắc mắc tại sao. Tôi thắc mắc tại sao.
Tôi thắc mắc tại sao tôi thắc mắc
Tôi thắc mắc tại sao tôi thắc mắc tại sao
Tôi thắc mắc tại sao tôi thắc mắc!
RICHARD P. FEYMAN
 

Con đường sáng sủa nhất để vào Vũ trụ thì đi qua rừng rậm hoang vu.
JOHN MUIR
 

Ðể đạt quả vị Phật… chúng ta phải gieo trong gió những cứu cánh và đối tượng của kiếp sống này.
MILAREPA
 

Ðạo mà có thể nói ra thì không là đạo vĩnh cữu.
LÃO TỬ

Người đời bị lừa dối, 
họ luôn luôn khao khát cái gì đó, 
tóm lại, họ luôn luôn tìm kiếm. 
Nhưng hiền giã thì thức tỉnh, 
họ chọn lựa lý do hơn là tục lệ. 
họ hướng thượng tâm trí và để thân xác biến đổi theo thời tiết.
BỒ ÐỀ ÐẠT MA
 

Khi tìm nó bạn chẳng thể nào thấy nó.
LỜI THIỀN
 

Không chỉ làm hết sức mình mà ta phải, trong khi làm hết sức mình, giữ cho mình không bị ràng buộc vào bất cứ cái nào ta đang ra sức thành tựu.
J. VAN DE WETERING
 

Nếu bạn hiểu rằng, tận căn bản, chẳng có gì để tìm kiếm, thì bạn đã giải quyết được công chuyện của mình.
LÂM TẾ
 

Con chim địa đàng chỉ hạ cánh trên bàn tay không nắm bắt.
JOHN KERRY
 

Nếu bạn nói rằng: "Thế là đủ, tôi đã đạt tới toàn hảo," thì mọi sự mất hết, vì chức năng của sự toàn hảo là làm cho ta cảm thấy mình bất toàn.
AUGUSTINÔ
 

Thiền sư Thạch Củng Huệ Tạng (k. 900) 
Ngày nào ông cũng to tiếng với mình:
"Ê, Thầy!"
"Dá?"
"Thầy đang nghe đấy chứ?"
"Dạ."
"Ðừng lấy làm đủ nhé?"
"Không đâu!"
 

Từng tự hào về sự tỉnh thức của mình, tôi nhận biết sự tự hào của tôi và lại tự hào về sự tỉnh thức đó. Nó diễn ra như thế này: tôi khôn ngoan biết bao khi tôi biết rằng tôi rất đần độn, tôi đần độn biết bao khi tôi biết mình khôn ngoan, và tôi khôn ngoan biết bao khi tôi nhận thức được sự đần độn của mình, và vân vân.
J. VAN DE WETERING
 

Ràng buộc vào những gì có tính tâm linh thì cũng rất giống với sự ràng buộc vào một tính yêu quay quắt cái gì khác.
THOMAS MERTON
 

Ðiều quan trọng... không phải là học thuyết đúng mà là đạt được sự nếm trãi thật sự. Nó là sự buông bỏ đức tin trong niềm tin.
ALAN KEIGHTLEY
 

Vấn đề là cái tôi có thể biến đổi bất cứ cái gì thành vật hữu dụng cho chính nó, kể cả tâm linh. Cái tôi thì miệt mài ra công gắng sức sở đắc và áp dụng những lời giảng về tâm linh để có lợi cho chính nó.
CHOGYAM TRUNGPA
 

Sự tìm kiếm hạnh phúc là một trong những nguồn cội chủ yếu của sự bất hạnh.
ERIC HOFFER
 

Thiền sư Vân Môn Huệ Khai
Một nhà sư hỏi ông: "Phật là gì?" 
Vân Môn đáp: "Que cứt khô."
 

Kẻ bảo: "Tôi ngộ rồi", thì có lẽ chẳng ngộ.
BABA RAM DASS
 

Thành ngữ Thiền: "Sát Phật!" có nghĩa là giết bất cứ khái niệm nào về Ðức Phật như là một cái gì đó nằm ngoài bản thân ta. 
Sát Phật là sắp là Phật.
PETER MATHIESSEN
 

Bạn đừng hỏi K. là ai.
Bạn phải hỏi bạn là ai.
KRISHNAMURTI
 

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.
NGUYỄN DU
 

Mọi người đều đang ngồi ở ghế tốt nhất.
JOHN CAGE
 

Nhìn đi! Ðây là thế giới của bạn! Bạn không thể nhìn. Ðây không là thế giới khác. Ðây là thế giới của bạn; nó là bữa tiệc của bạn. Bạn thừa hưởng cái này; bạn thừa hưởng những con ngươi đó; bạn thừa hưởng thế giới của màu sắc. Hãy nhìn sự vĩ đại của tất cả cái đó. Nhìn đi! Ðừng ngại ngần — nhìn đi! Mở lớn mắt ra mà nhìn. Ðừng nháy mắt, và nhìn di — nhìn đi — nhìn nữa đi.
CHOGYAM TRUNGPA
 

Không cần phải chạy quanh bên ngoài
Ðể nhìn cho rõ hơn...
... Thà là trụ lại
Tại trung tâm con người của ngươi
Vì càng rời xa nó ngươi càng biết ít đi
Hãy tìm kiếm trái tim ngươi và thấy
...
Cách làm đúng chính là cách hiện hữu.
LÃO TỬ
 

Chúc các ngôi sao
Chúc không khí 
ngủ ngon.
M.G. BROWN
 



VÔ TRI KIẾN


Tôi không hiểu đạo Phật.
HUỆ NĂNG
 

Kiến thức nghĩa là biết càng ít càng tốt.
CHARLES BUKOWSKI
 

Hãy rung chiếc chuông còn có thể rung,
Hãy quên lễ vật toàn hảo của bạn,
Mọi sự mọi vật đều có kẽ nứt,
Ðó là cách mà ánh sáng rọi vào.
LEONARD COHEN
 

Biết cái chúng ta không biết tức là sự khởi đầu của minh triết.
M. S. SANGHARAKSHITA
 

Ðứa bé la lớn: "Trên người ông vua chẳng mặïc gì cả!"
H.C. ANDERSON
 

Biết rằng bạn không biết là tốt nhất. 
Giả bộ biết khi bạn không biết là bệnh đấy!
LÃO TỬ
 

Thỉnh thoảng nó chứng tỏ rằng am hiểu tột độ là không hiểu gì cả.
GRACIAN
 

Tôi sẽ nói gì về thơ? 
Tôi sẽ nói gì về những đám mây kia, 
hay về bầu trời kia? 
Nhìn đi, 
hãy nhìn chúng, 
hãy nhìn nó! 
Và không có gì thêm. 
Bạn không hiểu rằng thi sĩ không thể nói gì về thơ sao? 
Hãy để việc đó cho các nhà phê bình và các thầy dạy học. 
Cả bạn lẫn tôi cũng như mọi thi sĩ 
chẳng ai hiểu thơ là gì.
F. GARCIA LORCA
 

Ðiều gì xảy tới cho lỗ cắn khi cục bơ đã hết.
BERTOLT BRECHT
Công án Tây
 

Kẻ thiện xạ không bắn trúng hồng tâm.
LỜI THIỀN
 

Những gì tôi biết về phương pháp là khi tôi đang làm việc. 
Thỉnh thoảng tôi nghĩ mình có biết đôi chút, 
nhưng khi tôi đang làm việc thì rõ ràng rằng tôi chẳng biết gì.
JOHN CAGE
 

Tôi không biết. 
Tôi cóc cần. 
Và như thế chẳng làm sao cả.
JACK KEROUAC
 

Chỉ bằng tâm hồn người ta chỉ có thấy đúng, vì cái cốt tủy thì hoàn toàn không thấy được bắng mắt.
SAINT-EXUPÉRY
 

Chân lý là gì? 
Tôi không biết và tôi rất tiếc là tôi đã nêu nó ra?
EDWARD ABEY
 

Mọi sự chúng ta biết là chẳng biết gì cả, chúng ta chỉ nhét cho đầy rỗ đựng giấy thải, trừ khi chúng ta dính líu tới tiếng cười nhạo báng mọi sự hiểu biết của mình.
D.H. LAWRENCE
 

Không gì đưa tới sự bình an tâm trí cho bằng đừng có ý kiến ý cò gì sất.
G.C. LICHTENBERG
 

Anh bảo các bài thơ của tôi là thơ sao?
Chúng không phải là thơ.
Nhưng nếu anh bảo chúng không phải là thơ
tức là anh đã thấy thơ ở trong chúng.
RYOKAN
 

Thiền sư Cảm Thành (?-860)
Có vị tăng đến hỏi Sư: - Thế nào là Phật?
Sư đáp: - Khắp tất cả các nơi.
Tăng lại hỏi: - Thế nào là tâm Phật?
Sư đáp: - Chưa từng che giấu.
Tăng hỏi tiếp: - Riêng con chẳng hội?
Sư đáp: - Ðã lầm qua rồi.
 

Hãy lật đá, các ngươi sẽ tìm thấy ta,
Hãy chẻ gỗ và ta ở đó.
ÐỨC GIÊSU
 

Tôi không biết gì cả ngoại trừ cái thực tế rằng tôi ngu dốt.
SOCRATES
 

Người phỏng vấn: Thưa thầy, tôi có nhiều câu muốn hỏi.
Yogi Berra: Nếu anh hỏi tôi điều gì mà tôi không biết, tôi sẽ không trả lời.
 

Biết thì không nói,
Nói là không biết.
LÃO TỬ
 

Tôi đưa con người lên xuống, ngang dọc, qua về trước lỗ mũi mình 
và học được rằng quả thật chúng ta có thể chẳng hiểu gì cả.
GOETHE
 

Nói cho biết gió màu gì?
CÔNG ÁN THIỀN
 

Biết nhiều
thì hiểu ít.
LÃO TỬ
 

Nhà thông thái ấy chết ra sao? Như một thằng khờ.
GIẢNG VIÊN 2:16
 

Khi chúng ta sở đắc thêm kiến thức, vạn vật không trở thành chóng được lĩnh hội hơn mà hóa ra huyền bí hơn.
WILL DURANT
 

Mọi khẳng định đều đúng theo ý nghĩa nào đó, 
sai theo ý nghĩa nào đó, 
vô nghĩa theo ý nghĩa nào đó, 
đúng và sai theo ý nghĩa nào đó, 
đúng và vô nghĩa theo ý nghĩa nào đó, 
và đúng và sai và vô nghĩa theo ý nghĩa nào đó.
SRI SYADASTI
 

Chúng ta ở đây và nó là lúc này. 
Và sâu xa hơn mọi kiến thức của con người là ánh trăng kia.
H.L. MENCKEN
 

Tưởng tượng thì quan trọng hơn kiến thức.
A. EINSTEIN 
 

Chúng ta biết quá nhiều và cảm giác quá ít.
BERTRAND RUSSELL
 

Thảm kịch của thế giới chính là không người nào biết rằng mình không biết; 
và kẻ càng biết ít thì càng chắc chắn rằng cái gì mình cũng biết.
JOYCE CAY
 

Trong bóng chày, bạn chẳng biết gì cả.
YOGI BERRA 
 

Trước khi cha mẹ anh chào đời thì mặt mũi thật của anh ra sao?
CÔNG ÁN THIỀN
 

Với toàn bộ kiến thức khoa học, liệu bạn có thể nói cho tôi biết làm thế nào và lúc nào ánh sáng rọi vào linh hồn?
THOREAU
 

Mục đích của nơm là đơm cá; 
khi đã đơm được cá người ta quên nơm.
Mục đích của chiếc bẫy thỏ là bắt thỏ; 
khi bắt được thỏ người ta quên bẫy.
Mục đích của lời nói là để chuyên chở ý tưởng; 
khi đã nắm bắt được ý tưởng người ta quên lời nói.
Nơi nào tôi có thể tìm ra người quên lời nói? Hắn chính là kẻ tôi muốn trò chuyện.
TRANG TỬ
 

Không cách gì có thể biết tại sao người ngáy không thể nghe hắn ngáy.
MARK TWAIN
 

Người bình thường sở đắc kiến thức thì làm hiền giả, 
Hiền giả sở đắc kiến thức thì làm người bình thường.
LỜI THIỀN
 

Chẳng nhân gió cuốn mây trôi hết,
Ðâu thấy trời trong muôn dặm thu.
TRÍ BẢO
 

Nhà kho cháy rụi,
Lúc này,
Tôi có thể thấy trăng.
MASAHIDE
 



THIỀN ÐỊNH

Cái gọi tọa thiền là 
ngồi trên một bồ đoàn 
trong một căn phòng yên tĩnh, 
tuyệt đối ngồi yên, 
theo một tư thế đúng đắn và thích hợp 
và không một tiếng thì thầm,
tâm trí trống vắng mọi ý nghĩ, cả thiện lẫn ác. 
Tiếp tục ngồi bình an như thế, 
mặt hướng vào vách, 
thế thôi. 
Ngồi hằng ngày.
TAISEN DESHIMARU
 

Chẻ củi
Gánh nước
Nhặt rau
Cũng là Thiền định.
LỜI THIỀN
 

Bất hạnh lớn lao của con người là hắn không có bộ phận nào, không có một loại mi mắt hoặc bộ thắng nào, để che kín hoặc chận đứng một ý nghĩ, hoặc toàn bộ tư duy khi hắn muốn.
PAUL VALÉRY
 

Trong việc tọa thiền, điều khát khao là có một căn phòng yên tĩnh. 
Bạn nên ăn uống điều độ, từ bỏ mọi quan hệ hão huyền. 
Ðặt mọi sự qua một bên, đứng nghĩ tới thiện ác, đúng sai. 
Như thế bạn làm ngừng mọi chức năng muôn hình muôn vẻ của tâm trí, buông bỏ ngay cả cái ý tưởng muốn thành Phật.
ÐẠO NGUYÊN
 

Tọa thiền không phải là ngồi quán tưởng — và nó hoàn toàn khác với chiêm nghiệm. 
Tọa thiền là sự làm trống rỗng tâm trí khỏi mọi ý nghĩ, chỉ để đơn giản là đang sống.
 

Ở giữa toàn bộ thiện và ác, không một ý tưởng trồi lên trong tâm trí — đó gọi là tọa. 
Nhìn vào bản chất tự nhiên (tự tánh) của mình, không chút nào chuyển động — đó gọi là thiền.
HUỆ NĂNG
 

Ngày nọ, có người tới với Ikkyu (Nhất Hưu) và yêu cầu:
- Bạch Thầy, xin vui lòng viết cho tôi vài câu châm ngôn về trí huệ tuyệt vời?
Ikkyu cấm bút viết:
- Chú ý.
Người đó hỏi:
- Thế thôi sao?
Nghe vậy, Ikkyu viết thêm:
- Chú ý. Chú ý.
Người đó nói:
- Vậy ư? Tôi thật sự chẳng thấy sâu sắc lắm trong những gì thầy viết.
Lúc đó, Ikkyu viết cũng một chữ ấy ba lần nữa:
- Chú ý. Chú ý. Chú ý.
Bực tức, người đó yêu cầu:
- Vậy thì chữ "Chú ý" nghĩa là gì?
Ikkyu dịu dàng trả lời:
- Chú ý nghĩa là chú ý.
THIỀN THOẠI 
 

Tọa thiền không phải là thực hành sự tự cải tiến, giống như một tiến trình kết giao bằng hữu hoặc tác động lên người khác. Với người nghiêm chỉnh tọa thiền thì xuất hiện một sự biến đổi có tính con người, nhưng đó không phải là vấn đề điều chỉnh cái tôi. Ðó là quên đi bản ngã.
ROBERT AITKEN
 

Hãy gõ lên trời
và lắng nghe.
LỜI THIỀN
 

Thấy bản ngã của mình thì khó như nhìn lui mà đừng ngoái cổ.
THOREAU
 

Nếu bạn nhìn lâu vào hố thẳm, hố thẳm cũng nhìn lâu vào bạn.
NIETZSCHE
 

Thiền không phải là một loại hứng thú nào đó, 
mà là sự chú mục vào lề thói sinh hoạt thường ngày.
 

1. Từ rắc rối, tìm giản dị. 
2. Từ đối nghịch, tìm hòa hợp. 
3. Ngay giữa chỗ khó khăn nằm sẵn cơ hội. 
ALBERT EINSTEIN
ba nguyên tắc làm việc 
 

Thiền định chân chính là gì? Là biến mọi sự ho, nuốt, vẫy tay, cử động, ngồi yên, lời nói, hành động, thiện và ác, thành công và hỗ thẹn, được và mất, đúng và sai, thành một công án.
BẠCH ẨN
 

Nhìn lên mới thấy các vật lớn,
Nhìn xuống thì chỉ thấy các vật nhỏ.
G.K.CHESTERTON
 

Ðối với người bình thường, những kẻ tâm trí là bàn cờ chồng chéo những phản chiếu, những ý kiến, những thành kiến, thì rõ ràng sự hoàn toàn chú ý là điều bất khả thi; vì thế đời sống của hắn không tập trung trên chính thực tại mà là trên những ý tưởng về thực tại. 
Bằng việc tập trung tâm trí vào từng đối tượng và từng hành động, người quán tưởng tự lột bỏ khỏi những ý nghĩ không thích đáng và để cho mình nhập vào sự hòa hợp trọn vẹn với cuộc đời.
PHILIP KAPLEAU
 

Ðối với sự giải thoát toàn bộ, ngồi là cổng ra vào của chân lý.
ÐẠO NGUYÊN
 

Trong khi tọa thiền, não và ý thức trở nên thuần khiết. Nó y như để yên nước bùn trong ly. Từng chút một, cặn lắng xuống đáy và nước thành tinh sạch.
TAISEB DESHIMARU
 

Tọa thiền không phải là phương tiện cho một cứu cánh. Nó là cả phương tiện lẫn cứu cánh.
KRISHNAMURTI
 

Tọa thiền tự nó là Thượng đế.
ÐẠO NGUYÊN
 

Hãy dạy chúng tôi màng và chẳng màng
Hãy dạy chúng tôi ngồi yên.
T.S. ELIOT
 

Chúng ta bệnh vì say mê những công cụ hữu dụng như các danh xưng, các con số, các biểu tượng, các bảng hiệu, các khái niệm và các ý tưởng. 
Vì thế thiền định là nghệ thuật đình chỉ trong một thời khoảng việc suy nghĩ bằng ngôn từ và biểu tượng; 
nó là cái gì đó giống như đám khán giả nhã nhặn ngưng trò chuyện khi sắp bắt đầu cuộc hòa nhạc.
ALAN WATTS
 

Không ý nghĩ, 
không hành động, 
không chuyển động, 
toàn bộ bất động.
Chỉ lúc ấy mới có thể biểu thị bản chất thật và qui luật của vạn vật từ bên trong và một cách vô thức, 
và cuối cùng trở nên một với đất trời.
LÃO TỬ
 

Bạn không cần rời căn phòng của mình. 
Hãy ngồi lại bên chiếc bàn và nghe. Thậm chí không nghe, chỉ chờ. 
Thậm chí không chờ, chỉ ngồi thật yên và cô đơn. 
Thế giới sẽ tự nó phô ra trọn vẹn cho bạn [vì] nó chỉ còn cách duy nhất là ngây ngất lăn mình dưới chân bạn.
FRANZ KAFKA
 

Trong tọa thiền, ta chính là cái đang là, cái ta đã là và cái ta sẽ là, trong tức thời hợp lại làm một.
PETER MATHIESSEN
 

Khi người ta dấn thân vào tọa thiền thì những gánh nặng tinh thần, những lo âu không cần thiết và những ý nghĩ lang bang sẽ biến mất từng cái rồi từng cái; cuộc sống diễn ra êm đềm và khoan khoái. 
Lúc ấy thiền sinh có thể dựa vào trực giác mà lập quyết định. 
Khi người ta hành động theo trực giác thì không trổi lên ý nghĩ thứ hai mà cùng theo với nó là nhị nguyên, hoài nghi và lưỡng lự.
NYOGEN SENZAKI
 

Nếu bạn có môt ly chứa đầy thứ dung dịch mà bạn có thể thao thao bất tuyệt về phẩm chất của nó, tranh luận không biết nó lạnh hay ấm, không biết nó có quả thật là sự kết hợp của H2O, hoặc là nước khoáng hay là rượu sa-kê. Tọa thiền là uống nó.
TAISEN DESHIMARU
 

Sự độc đáo của tọa thiền nằm ở chỗ này: rằng tâm trí được giải thoát khỏi sự câu thúc của mọi hình thức tư duy, thị kiến, mục đích và tưởng tượng, tuy thế nó được thiêng liêng hóa và nâng cao, và đưa tới một trạng thái tuyệt đối trống rỗng; từ chỉ một trạng thái đó thôi, tới ngày nào đó người ta có thể tri giác được bản chất thật sự của mình hoặc bản chất của vũ trụ.
PHILIP KAPLEAU
 

Các bậc tôn sư đều nói với chúng ta rằng thực tại của cuộc sống — mà tiếng động của chúng ta làm thức dậy cái ý thức ngăn chận không cho chúng ta nghe — nói với chúng ta chủ yếu trong im lặng.
K.G. DURCKHEIM
 

Tôi không để ý tới Thượng đế và các thiên thần của ngài vì tiếng động của một con ruồi, vì tiếng lách cách của xe đò, vì tiếng cọt kẹt của cánh cửa.
JOHN DONNE
 

Trí huệ là im lặng, chân lý thì không thể nhìn thấy. Nhưng khi tuyên bố về chuyện đó thì tôi làm om sòm.
NED ROREM
 

Về cái mà ta không thể phát biểu thì chỉ còn cách là im lặng.
WITTGENSTEIN
 

Càng im lặng, bạn càng có thể nghe. 
BABA RAM DASS
 



NGỘ

Diệu kỳ nhất hơn hết mọi diệu kỳ! Sâu trong bản chất, mọi sinh linh đều là Phật, được phú cho minh triết và đức hạnh, nhưng vì tâm trí con người hóa ra điên đảo bởi tư duy hão huyền nên họ không nhận ra điều đó.
ÐỨC PHẬT
 

Chẳng bao lâu, đôi mắt trong vắt của của đứa bé ấy bị ám bóng mây vì những ý tưởng, những ý kiến, những thành kiến và những ý niệm trừu tượng. Con người thanh thoát và mộc mạc bị cẩn khảm, bị bọc cứng bởi áo giáp nặng nề của bản ngã. 
Chỉ tới nhiều năm sau, bản năng mới xuất hiện khiến cho cảm giác huyền bí sinh động tuôn trào. Mặt trời lấp lánh qua ngọn thông và con tim nhức buốt trong khoảnh khắc đẹp đẽ và đau nhói lạ thường ấy giống như sự tưởng nhớ địa đàng. 
Sau ngày đó, chúng ta trở thành hành giả.
PETER MATTHIESSEN
 

Ðó là một buổi sáng đầu xuân. Sương mù bàng bạc tỏa ánh lung linh và gờn gợn trên hàng cây bồ đề. Không khí chất ngất mùi hương thơm ngát. Nhiệt độ tựa như vuốt ve mơn trớn. Tôi nhớ lại — tôi chẳng cần phải hồi tưởng — rằng tôi leo lên một gốc cây và bỗng dưng cảm thấy tôi ngâm mình vào Cái đó. Tôi không thể gọi nó bằng tên đó. Tôi không cần tới ngôn từ. Nó và tôi là một.
BERNARD BERENSON
 

Chính trong giờ huyền ảo lúc mới chạng vạng tối mà người ta có thể cảm thấy sự sống gần như hấp hối của trần gian. Giờ khắc ấy khủng khiếp đối với một số người tới độ họ lật đật chạy vô nhà, bật đèn lên.
ELIZABETH BOWEN
 

Cho dù qua nhiều năm, các nỗ lực chú ý chẳng đưa tới kết quả nào, thì tới một ngày nào đó, ánh sáng – theo tỉ lệ tương ứng với các nỗ lực ấy – sẽ tràn vào linh hồn bạn.
SIMONE WEIL
 

Một cách cốt tủy, Ngộ là chứng nghiệm đột ngột, và nó thường được mô tả như một "quay ngoắt" của tâm trí, giống như hai chiếc đĩa cân đột ngột quay ngoắt khi có một số lượng đầy đủ vật chất được trút vào đĩa này làm lệch thăng bằng sức nặng trong đĩa kia. Vì thế, nó là một nếm trải thường xuất hiện sau sự nỗ lực tập trung dài ngày để khám phá ý nghĩa của Thiền.
ALAN WATTS
 

Tôi nhập (vào cái ngã nội tâm của tôi) và thấy với con mắt của linh hồn tôi... cái Sự Sáng Bất Biến.
AUGUSTINÔ
 

Bất cứ cái gì hơn chân lý cũng đều quá đáng.
ROBERT FROST
 

Ý thức tự nó là tôi.
Tôi cảm thấy không có cặn bã hoặc vật chất trong linh hồn tôi.
Không miệng không vành như trên một cái chén
Chúng tôi thấy. Bản thể của tôi là sức chứa.
THOMAS TRAHERNE
 

Nửa khuya tôi chợt thức giấc. Thoạt đầu, tâm trí tôi mù mờ. Rồi lập tức tôi như bị sét đánh, khoảnh khắc sau, trời đất sụp đổ và biến mất. Tức thời, tựa những con sóng trào dâng, một khoái cảm lạ thường tuôn tràn trong tôi, một cơn bão khoái cảm thật sự, khi ấy tôi cười sằng sặc và hoang dại, "Ở đây không có lý luận, không lý luận chút nào. Ha! Ha! Ha!" Bầu trời trống rỗng nứt làm đôi, rồi mở ra cái miệng khổng lồ của nó và rồi bắt đầu cười ha hả: "Ha! Ha! Ha!"
KOUN YAMADA
 

Tôi ngồi đó lắng nghe với trọn vẹn con người mình, với toàn bộ sức mạnh trong khi lặng ngắm ngọn núi tôi cực kỳ yêu mến. Không biết trong khoảnh khắc đó, có ai trên thế gian này được hạnh phúc quá đổi như tôi.
COLETTE RICHARD
 

Mười năm tìm kiếm trong rừng sâu,
Hôm nay làm kẻ cười nắc nẻ bên bờ hồ.
SOEN
 

Trong bữa ăn kế đó — tôi là trưởng toán phục vụ — nước mắt chảy xuống đầy mặt khi tôi phục vụ... và sau đó, tôi bước ra khỏi thiền thất. Có một cái cây ở đó. Khi nhìn cây ấy, tôi không có cảm giác tôi là cây, nó còn sâu xa hơn nữa. Tôi cảm thấy gió ở trên tôi, tôi cảm thấy chim ở trên tôi, mọi sự phân biệt đều hoàn toàn biến mất.
B.T. GLASSMAN
 

Lúc này tôi không nhìn các bông hoa được cắm một cách khác thường. Tôi đang thấy cái mà Adam đã thấy trong buổi sáng tạo dựng ra ông — cái phép lạ, trong từng khoảnh khắc, của cuộc hiện sinh trần trụi.
ALDOUS HUXLEY
 

Kẻ nào biết mình thì biết đấng Allah.
MUHAMMED
 

Phật tính: Sự toàn hảo nội tại của mọi sinh linh mà hành Thiền là để nhận cho rõ.
 

Bạn ngồi trên quả đất và bạn nhận ra rằng quả đất xứng đáng với bạn và bạn xứng đáng với quả đất. Bạn đang ở đó — một cách đầy đủ, đích thân và chân thành.
CHOGYAM TRUNGPA
 

Ðột nhiên tôi bị phá sản và không nhà không cửa.
JOSHU
 

Sư Viên Chiếu (999- 1090), tháng 9 niên hiệu Quảng Hựu thứ sáu đời vua Lý Nhân Tông, gọi môn đồ vào dạy: 
"Trong thân ta đây, xương lóng gân mạch, tứ đại hòa hợp, ắt phải vô thường. Ví như ngôi nhà khi hoại, nóc mái và xà ngang đều rơi rớt. Tạm biệt các ngươi. Hãy nghe ta nói kệ:
Thân như tường vách đã suy đồi,
Thế tục hoang mang khóc chẳng thôi,
Nếu hiểu tâm Không, không sắc tướng
Sắc, không ẩn hiện phó vận trời."
(Nguyễn Ðăng Thục dịch) 
 

Một chiều cuối hè, tôi ngồi bên biển, ngắm sóng vỗ lăn tăn và cảm giác nhịp điệu của hơi thở mình. Khi ấy bỗng dưng tôi nhận biết toàn bộ môi trường của mình, như được đưa mình vào cuộc khiêu vũ vĩ đại của toàn thể vũ trụ. Tôi "thấy" những thác năng lượng tuôn xuống từ không gian bên ngoài, ở đó các phân tử được sinh và diệt trong những chuyển động đầy nhịp điệu. Tôi "thấy" nguyên tử của các nguyên tố và của cơ thể mình tham gia cuộc khiêu vũ năng lượng của toàn thể vũ trụ. Tôi cảm thấy nhịp điệu của nó, và tôi "nghe" âm thanh của nó. Và vào khoảnh khắc ấy, tôi biết rằng đó là Vũ điệu của Shiva, vị Chúa tể của các Vũ công, được người Ấn Ðộ thờ phượng.
FRITJOF CAPRA
 

Tôi đang đi dạo. Ðột nhiên tôi đứng yên, tràn ngập với nhận thức rằng tôi chẳng có hình hài hoặc tâm trí. Cái tôi có thể thấy là một Tổng thể đang chói lọi, vĩ đại và như nhất — ở mọi nơi, toàn hảo, trong sáng và thanh thản.
HÀN SƠN
 

Chuyện kể rằng tại sa mạc Scete, có một đại trưởng lão dòng khổ tu và ẩn tu đang nằm hấp hối. Các tu sĩ vây quanh giường; mặc áo liệm cho ông và bắt đầu than khóc. Nhưng vị đại trưởng lão mở mắt, cười lên ba tiếng.
Thấy vậy, các tu sĩ hỏi ông: "Thưa đại sư huynh, tại sao lão huynh cười trong khi bọn đệ khóc?"
Người sắp chết liền bảo: "Ta cười tiếng thứ nhất vì thấy các ngươi sợ chết. Ta cười tiếng thứ hai vì thấy các người không sẵn sàng cho cái chết. Và tiếng thứ ba ta cười vì từ những công việc lao động, ta đi tới nơi an nghỉ."
Nói xong mấy câu ấy, đại trưởng lão khép mắt và chết.
 

Ðột nhiên tôi cảm thấy rất hạnh phúc... Tôi cảm thấy quanh mình dâng lên bền vững một cơn thủy triều hân hoan cực độ... Nỗi ấm áp của cơn thủy triều ấy thì huy hoàng như thuộc về một ngọn lửa lớn lao và tríu mến. Tôi vẫn còn ý thức một cách trí tuệ, nghĩa là, tôi đang xét đoán tình cảnh của mình, cân nhắc nó, so sánh nó, thắc mắc về ý nghĩa có thể có của nó. Trước đây tôi chưa hề sở đắc ý thức phân biệt ấy, cái đang thao tác trên một mặt bằng ở đó mọi sự phân biệt đều có vẻ vô lý. Rồi cơn thủy triều ấy rút xuống chầm chậm để lại tôi sướng khoái, an nghỉ và tươi nhuận lại.
CHRISTMAS HUMPHREYS
 

Nếu các cánh cửa của nhận thức được làm cho tinh sạch thì dứt khoát mọi sự sẽ xuất hiện cho người ta đúng như chúng là chúng.
WILLIAM BLAKE
 

Khoảnh khắc này, hữu thể này, là Cái đó. Cuộc đời của tôi là toàn bộ sự sống ở qui mô nhỏ. Mặt trăng, các hành tinh, xoay quay trái tim tôi. Mặt trời mà lúc này bị che khuất bởi rìa mép bao la của quả đất, đang rọi vào tôi cũng như đang ở trong tôi. Các thần linh và các thiên thần, cả ác lẫn thiện, đều giống như những sợi tóc trên đầu tôi, dường như nhiều vô số kể, và mọc ra từ bên trong đầu tôi. Dường như con người vũ trụ tôi xuất từ chính tôi và tuy thế, tôi là cái gì? Một luồng bụi, hay là một tiếng ho khan, rồi tiếp đó là trống rỗng và im lặng.
ALEXANDER ELIOT
 

Vậy sao!: Một tiếng thét kiểu giật giọng (tiếng Nhật: Kwatsu, hoặc wats) được các thiền sư dùng để hớp hồn thiền sinh, làm thiền sinh sửng sốt, thoát ra ngoài lối suy nghĩ nhị nguyên.
 

Các thiền sư cho rằng việc am hiểu trọn vẹn về Thiền của cá nhân thì thưởng xảy tới đột ngột nhờ nghe võn vẹn chỉ một câu. Nó được tính toán một cách chính xác để tiêu diệt loại tà ám vô minh riêng biệt của một cá nhân nào đó. Vì thế họ luôn luôn ưu ái lời đối thoại ngược đời và ngắn gọn, xem nó như một khí cụ để huấn luyện, dùng nó như cho một cú đánh đột ngột và choáng váng vào tâm trí thiền sinh, để trong khi tìm cái giá trị lớn lao của nó, anh ta có thể tự đẩy mình tới hoặc bay sang bờ Giác Ngộ.
JOHN BLOFED
 

Triết lý thì sống trong ngôn từ, còn chân lý và thực tế thì tuôn trào trong cuộc sống của chúng ta bằng những cách thức vượt quá công thức hoặc qui ước ngôn ngữ. 
Trong thao tác sống động của nhận thức luôn luôn có cái gì đó le lói, lấp lánh và không thể nắm bắt, và vì thế, sự phản chiếu đến rất trễ.
WILLIAMS JAMES
 

Biết người khác là minh triết, 
Biết chính mình là Giác ngộ.
LÃO TỬ
 

Sự giác ngộ nào đòi hỏi phải xác nhận, chứng nhận, thừa nhận, hoan hỉ công nhận, đều chỉ là giác ngộ (cho tới lúc ấy) hoặc ít ra là một giác ngộ chưa trọn vẹn.
R.H. BLYTH
 

Ðây là Nó
và tôi là Nó
và bạn là Nó
và Ðó cũng thế
và Hắn là Nó
và Nàng là Nó
và Nó là Nó
và Ðó là Ðó
JAMES BROUGHTON
 

Vũ trụ bắt đầu nhìn giống với một tư tưởng vĩ đại hơn là một cổ máy vĩ đại.
JAMES JEANS
 

Cái là thế giới thì có tính huyền bí.
WITTGENSTEIN
 

Thượng đế ở trong óc não tôi
và trong sự hiểu biết của tôi.
Thượng đế ở trong mắt tôi,
Và trong lời nói của tôi.
Thượng đế ở trong tim tôi
Và trong tư duy của tôi.
Thượng đế ở trong giờ lâm chung của tôi
Và ở trong sự ra đi của tôi
SARUM PRIMER
 

Sư Minh Lương (tk.17) sắp tịch, 
truyền pháp cho Chân Nguyên và nói kệ:
Ngọc quí ẩn trong đá,
Hoa sen mọc từ bùn
Nên biết chỗ sinh tử,
Ngộ vốn thiệt Bồ-đề.
Nói kệ xong, Sư bảo: 
"Nay ta trở về." 
Dứt lời, Sư tịch.
 

Thâm nhập vào rất nhiều bí ẩn, chúng tôi thôi không còn tin vào tính bất khả tri. Tuy thế, nó ngồi đó, trầm lặng chép chép miệng ngon lành.
H.L. MENLKEN
 

Chúng ta mang theo bên trong mình những thắc mắc bị chúng ta tìm kiếm ở bên ngoài mình.
THOMAS BROWNE
 

Nước Thiên chúa ở trong các anh chị em.
LUCA 17:21
 

Ðể đốn ngộ, ta phải buông bỏ cái tôi. 
Ðể nhận mọi sự, ta phải mở bàn tay và cho.
TAISEN DESHIMARU
 

Bạn chẳng thể cô đơn giữa biển cả — bạn đang rất đổi cô đơn.
TANIA AEBI
 

Sư Pháp Hiền (?-626) lúc còn ở chùa Pháp Vân (chùa Dâu), gặp Tổ là Hòa thượng Tì-ni-đa Lưu-chi từ Quảng Châu sang. Thấy Sư, Tổ nhìn kỹ rồi hỏi:
- Ngươi họ chi?
Sư không đáp, hỏi lại:
- Hòa thượng họ gì?
Tổ bảo:
- Ngươi không có họ sao?
Sư thưa:
- Họ không phải không có, nhưng Hòa thượng cần gì phải biết?
Tổ quát:
- Biết để làm gì?
Sư liền tỉnh ngộ ngay, sụp lạy.
 

Một con thuyền chài mộc mạc giữa mặt nước sóng gợn lăn tăn đủ để đánh thức trong tâm hồn của khán giả ý thức bao la của biển cả lẫn của bình an và thư thái — đó là Thiền nghĩa của cô đơn.
D.T. SUZUKI
 

Mục đích của Thiền là luyện tập để sở đắc một trạng thái của ý thức; 
nó xuất hiện khi cái tôi cá thể tự nó trống rỗng chính nó 
và trở nên đồng nhất với thực tại tuyệt đối của mọi vật.
ANNE BANCROFT
 

Sau nhiều năm xoay xở với công án Vô, Thiền sư Vô Môn Huệ Khai (1183-1260) đạt Ðại Giác Ngộ khi ông nghe tiếng trống báo hiệu giờ ăn trưa. 
Khi được yêu cầu mô tả sự đốn ngộ của mình, ông nói: "Người câm diễn tả những giấc mơ của hắn còn dễ hơn."
 

Mọi vấn đề đều biến mất khi bạn ở trong chiều kích vô ngôn của ý thức. Thần học, triết học và siêu hình học — như chúng ta thường gọi chúng — thôi không còn là những vấn đề khẩn trương. Bạn thấy từng câu trả lời cho từng câu hỏi mà các nhà thần học và các nhà siêu hình học đặt ra, và bạn thấy tại sao các câu hỏi của họ đều phi lý.
WITTGENSTEIN
 

Chính sự buông bỏ ở nội tâm dẫn con người tới chân lý tối thượng.
HENRY RUSO
 

Khi, trong sức mạnh thiêng liêng [của linh hồn], nó sở hữu toàn bộ hình hài, nó chuyển đổi hình hài thành những đám mây chuyển động chói lọi, và như thế, có thể biểu lộ chính nó trong toàn bộ tính thiêng liêng của nó. 
Ðó là lời giải thích về phép lạ Thánh Francis đi bộ trên mặt biển. Hình hài ông không còn có cái trọng lượng giống với hình hài của chúng ta; qua linh hồn, nó đã hóa ra rất đổi nhẹ nhàng.
ISADORA DUNCAN
 

Con người và điều đòi hỏi độc nhất là giải phóng bản thân khỏi những câu thúc của tâm trí cũng như của thể xác, đóng chiếc ấn của Ðức Phật lên bản thân mình. 
Nếu bạn làm điều đó trong khi ngồi tham thiền nhập định, toàn bộ vũ trụ đang bị tán loạn khắp không gian vô tận trở thành một trạng thái sáng tỏ. 
Ðó là cái tôi muốn nói khi dùng chữ chiếc ấn của Ðức Phật.
ÐẠO NGUYÊN
 

Nếu chúng ta đốn ngộ và cái ngộ đó biểu lộ, như cục cứt chó dính ở chót mũi, thì chẳng tốt lành gì lắm.
TAISEN DESHIMARU
 

Khi thực tại được nhận thức theo bản tính toàn hảo tối hậu của nó, kẻ hành thiền đạt tới trình độ minh triết được gọi là tâm vô phân biệt — một sự cảm thông kỳ diệu ở đó không còn bất cứ khác biệt nào từng được tạo ra giữa chủ thể và khách thể.
THÍCH NHẤT HẠNH
 



TÂM TRÍ SƠ TẬP


Làm chủ tâm trí thì hơn bị làm chủ bởi tâm trí.
LỜI THIỀN 
 

Tốt nhất là mở mắt và nhìn.
THOMAS MERTON
 

Nếu tâm trí của bạn trống rỗng, nó luôn luôn sẵn sàng cho bất cứ cái gì; nó mở sẵn ra cho mọi cái. Trong tâm trí của người mới bắt đầu thì có nhiều khả năng, còn tâm trí của kẻ đã thành thạo thì có ít khả năng.
SHUNRYU SUZUKI
 
 

Ðể làm người nhận biết, ta nên như cây đèn cầy, được thắp sáng và dễ chảy.
HUYỀN HỌC YAQUI
 

Khi bạn xanh non là bạn đang lớn. Khi bạn chín thì bạn thối rữa.
RAY KROC
 

Ðể hiểu chân lý ta phải có một tâm trí bén nhạy, chính xác, sáng sủa; 
không phải môt tâm trí khôn vặt 
nhưng là một tâm trí có khả năng nhìn mà không có bất cứ sự bóp méo vo tròn nào, 
một tâm trí thơ ngây và dễ bị thương tổn.
KRISHNAMURTI
 

Ý thức thì lúc nào cũng mở tới nhiều khả năng vì nó đòi hỏi đùa giỡn. Lúc nào nó cũng mạo hiểm.
JULIAN JAYNES
 

Cái gây lộn xộn cho ta chính là khuynh hướng tin rằng tâm trí của ta giống như một gã tí hon đang ở trong ta.
LUWIG WITTGENSTEIN
 

Nên đặt một số câu hỏi hơn là nên biết mọi câu trả lời.
JAMES THURBER
 

Hãy giữ cho bàn tay bạn mở, và mọi hạt cát của sa mạc có thể luồn qua kẽ tay. 
Nắm bàn tay lại thì tất cả những gì bạn cảm thấy chỉ là một nhúm cát.
TAISEN DESHIMARU
 

Thế giới của trẻ con thì tươi nguyên, mới mẻ và đẹp đẽ, đầy những thắc mắc và háo hức. 
Sự bất hạnh của chúng ta chính là đối với hầu hết chúng ta, cái nhìn với hai con mắt trong sáng và cái trực cảm chân chính về những gì đẹp đẽ và đáng kính sợ đều hóa ra mập mờ và thậm chí mất hẳn trước khi chúng ta tới tuổi trưởng thành.
RACHEL CARSON
 

Ðặt câu hỏi khó thì dễ.
W.H. AUDEN
 

Chúng ta đều được sinh ra yêu kiều, tươi mát, hồn nhiên, và rồi bị văn minh hóa trước khi phải tự thích nghi để tham dự vào xã hội.
MS MANNERS (J. MARTIN)
 

Tại làm sao trẻ nhỏ thì rất trí tuệ còn người lớn thì quá khờ khạo? Hẳn là giáo dục đã gây ra chuyện đó.
ALEXANDRE DUMAS Con
 

Ai không đón nhận Nước Trời như một đứa trẻ thì không được vào.
LUCA 18:17

Có những đứa trẻ đùa giỡn trên đường phố đang giải quyết vài vấn đề lớn nhất của tôi trong vật lý vì chúng có những cách nhận thức bằng cảm giác mà tôi đã đánh mất từ lâu.
J.R. OPPENHEIMER
 

"Bạn có thời thơ ấu hạnh phúc không?" đó là một câu hỏi trật lất. 
Khi còn bé, tôi không hiểu hạnh phúc là gì, cũng chẳng biết mình có hạnh phúc hay không. Tôi quá bận rộn sống với hiện thực.
ALISTAIR REID
 

Bạn không cần cả một đội tuyển. Thậm chí, bạn không cần tới chín đứa trẻ. Bốn đứa là đủ: Một đứa ném bóng, một đứa đập chày, hai đứa rượt đuổi. Bạn có thể chơi suốt từ sáng tới tối. Các con tôi thường cố kéo tôi ra chơi nhưng tôi chỉ nói: "Mấy anh em cứ chơi với nhau".
Nếu có điều gì đó trẻ con muốn làm thì chúng sẽ làm; chúng chẳng cần người lớn làm dùm.
YOGI BERRA
 

Ðôi khi người ta thật sự sửng sốt vì không nếm trải thế giới đúng theo cách họ đã được bảo cho biết.
ALAN HEIGHTLEY


TÂM TRÍ THÔNG THƯỜNG


 


Nếu bạn đi, hãy chỉ đi. 
Nếu bạn ngồi, hãy chỉ ngồi.
Nhưng dù làm bất cứ việc gì bạn bạn chớ dùng dằng.
VÂN MÔN
 

Ðức Phật, Ðấng Trí huệ, cư trú hoàn toàn thoải mái trong các mạch điện của máy vi tính kỹ thuật số hoặc những thiết bị chuyển giao theo chu kỳ, y như ngài cư trú trên đỉnh núi hoặc trong các cánh hoa.
ROBERT PIRSIG
 

Trong Phật giáo, không có chỗ cho sự rán sức. 
Chỉ là bình thường và chẳng có gì đặc biệt. 
Ăn thức ăn của bạn, đi đại tiện, đi tiểu tiện và khi bạn mệt thì đi nằm. 
Kẻ vô minh sẽ cười tôi còn người minh triết thì hiểu.
LÂM TẾ
 

Nếu một người không có gì ăn thì nhịn đói là việc trí huệ nhất mà hắn có thể làm.
HERMAN HESSE
 

Tôi có một triết lý đơn giản: 
Hãy làm đầy cái gì trống. 
Hãy làm trống cái gì đầy. 
Hãy gãi chỗ nào ngứa.
ALICE R. LONGWORTH
 

Ken Boswell: - Tôi đang nổi hứng. Tôi không thể bỏ thói quen nhỏng lên.
Yogi Berra: - Thế thì nhỏng xuống.
 

Các bạn diễn viên trẻ ạ, hãy học từng hàng và đừng vấp trúng đồ đạc.
SPENCER TRACY
 

Hỡi các nhà làm phim trẻ, hãy ở ngoài nhà tù.
ALFRED HITCHCOCK
 

Hỡi các nhà đạo diễn trẻ, hãy chỉ ngồi ngoài đó và cứ để chúng lần lượt đi qua. Khi thấy có cái gì đó bạn không thích thì hãy thay đổi nó.
JOSHUA LOGAN
 

Tôi không diễn tả cái gì cả. Tôi chỉ thể hiện con người đang chuyển động.
MERGE CUNNINGHAM
 

Tôi đi khắp nơi nhìn ngựa và gia súc. Chúng ăn cỏ, làm tình, làm việc khi phải làm việc, sinh con. Tôi nổi quạu vì ganh tị với chúng.
SHERWOOD ANDERSON
 

Hãy học ao ước rằng mọi sự nên đến để qua đi đúng theo cách của chúng.
EPICTETUS
 

Nếu bạn không hạnh phúc lúc này và tại đây thì bạn sẽ không bao giờ hạnh phúc.
TAISEN DESHIMARU
 

Khi bạn hiểu thông suốt một điều, bạn hiểu mọi điều.
SHUNRYU SUZUKI
 

Thượng đế ở trong các chi tiết.
MIES VAN DER ROHE
 

Các chi tiết thìø toàn bộ ởø đó.
MAEZUMI
 

Ðức tin và triết học là hơi là khí, nhưng các sự kiện là đồng là thau.
HERMAN MELVILLE
 

Khả năng đơn giản hóa nghĩa là loại trừ những gì không thiết yếu để cái thiết yếu có thể lên tiếng.
HANS HOFMAN
 

Thiền sư Triệu Châu (778-897) 
Tăng: - Bạch Thầy, tôi chỉ mới vào Thiền viện, xin Thầy vui lòng chỉ bảo.
Triệu Châu: - Ngươi ăn cơm chưa?
Tăng: - Bạch Thầy rồi ạ.
Triện Châu: - Vậy rửa chén đi
Nghe câu ấy, tăng ngộ.
 

Trong khi rửa chén ta chỉ nên rửa chén, cái đó có nghĩa rằng trong khi rửa chén, ta nên nhận biết hoàn toàn cái thực tại là ta đang rửa chén. 
Thoạt nhìn, cái đó đường như có chút gì ngớ ngẩn: tại sao lại đặt quá nhiều căng thẳng và một việc đơn giản như thế. Nhưng đó chính xác là vấn đề. 
Thực tế là tôi đang đứng đó và rửa chén là một thực tại kỳ diệu. Tôi đang hiện hữu cái tôi toàn bộ, theo hơi thở của tôi, ý thức về sự hiện diện của tôi, ý thức về mọi ý nghĩ và mọi hành động của tôi. 
Không cách gì tôi có thể bị nghiêng ngả vô tâm như một cái chai dập dềnh đây đó trên đầu ngọn sóng.
THÍCH NHẤT HẠNH
 

Khi chúng ta chú ý thì bất cứ cái gì chúng ta đang làm — dù nấu ăn, lau nhà hoặc làm tình — đều bị chuyển thể và trở nên thành phần của con đường tâm linh của chúng ta. Chúng ta bắt đầu để ý các chi tiết và các kết cấu mà trước đây chúng ta không bao giờ để ý; cuộc sống hằng ngày trở nên sáng tỏ hơn, sắc nét hơn và đồng thời thênh thang hơn.
RICK FIELDS
 

Nhà báo: - Thầy có cảm thấy e sợ trong ván thứ 12 không?
Yogi Berry: - Không, nhưng tôi đã sợ.
 

Nếu chúng ta sống, chúng ta sống. 
Nếu chúng ta chết, chúng ta chết. 
Nếu chúng ta đau khổ, chúng ta đau khổ. 
Nếu chúng ta kinh hãi, chúng ta kinh hãi. 
Chuyện đó chả thành vấn đề.
ALAN WATTS
 

Trong khi tôi mò mẫm sách vở
Và suy nghĩ về Thượng đế và Ma quỉ, và đủ thứ
Thì những thanh niên đang vật lộn với tháng ngày
Và những kẻ khác đang hôn phụ nữ đẹp.
ALDOUS HUXLEY
 

Kiến thức, đừng tìm nó trong sách, hãy tìm nó ngay trong vạn vật.
WILLIAM GILBERT
 

Trong cuộc sống, chính cái quen thuộc thường tránh né chúng ta. Cái ở ngay trước mũi chúng ta là cái sau cùng chúng ta thấy.
WILLIAM BARRET
 

Nó đòi hỏi một loại tâm trí nhất định để thấy vẻ đẹp trong ổ bánh mì kẹp thịt. Tuy thế, có bất thường hay không khi tìm thấy vẻ duyên dáng trong kết cấu và hình cong vòng dịu dàng của chiếc bánh hơn là ngẫm nghĩ một cách đáng yêu... về sự sắp xếp các kết cấu và màu sắc trên cánh một con bướm.
RAY KROC
 

Những con bò thiêng liêng làm những bánh nhân thịt cao cả.
ROBERT REISNER
 

Có một sự an tĩnh nào đó đầy Phật tính đến từ việc... có tiền trong ngân hàng.
TOM ROBBINS
 

Những khía cạnh của vạn vật rất quan trọng cho chúng ta, thì bị ẩn dấu vì tính chất mộc mạc và quen thuộc của chúng.
WITTGENSTEIN
 

Nam Tuyền Phổ Nguyện (738-835) là đệ tử của Mã Tổ Ðạo Nhất và là sư phụ của Triệu Châu Tòng Thẩm. Cuộc trò chuyện dưới đây diễn ra khi Triệu Châu còn thanh niên.
Triệu Châu: - Ðạo là gì?
Nam Tuyền: - Tâm trí thông thường của người ta là Ðạo.
Triệu Châu: - Con có phải đi tìm nó không?
Nam Tuyền: - Không, nếu ngươi tìm nó ngươi không thể thấy nó.
Triệu Châu: - Thế thì làm sao con biết Ðạo?
Nam Tuyền: - Ðạo không phải là chuyện biết hay không biết. Biết là ảo tưởng; không biết là hoang mang. Ðạo chân chính thì mênh mông vô tận như không gian bên ngoài kia. Làm sao ngươi có thể nói về nó theo kiểu nói đúng và sai?
Tới đây, Triệu Châu ngộ.
 

Suốt hai mươi năm tôi chờ có ai đó nói với tôi: "Ngươi phải chửa lửa bằng lửa" để tôi có thể đáp lại: "Thiệt là tức cười — tôi luôn luôn dùng nước."
HOWARD GOSSAGE
 

Trong cái được thấy thì nên chỉ là cái được thấy; 
trong cái được nghe thì nên chỉ là cái được nghe; 
trong cái được cảm giác thì nên chỉ là cái được cảm giác; 
trong cái được nghĩ tới thì nên chỉ là cái được nghĩ tới.
ÐỨC PHẬT
 

Ðây này — sự nếm trải lúc này, lập tức và hằng ngày — là NÓ, cái điểm tối hậu và toàn bộ đối với sự hiện hữu của vũ trụ.
ALAN WATTS
 

Tôi đưa tay lên, tôi lấy cuốn sách ở mé bên kia cái bàn, tôi nghe bọn con trai đá banh bên ngoài cửa sổ; tôi thấy các đám mây lan tỏa bên kia khu rừng sát nhà: — trong tất cả những cái đó, tôi đang hành Thiền. Không cần tới sự thảo luận bằng ngôn từ hoặc bất cứ sự giải thích nào.
D.T. SUZUKI
 

Ðừng để tôi bắt gặp bất cứ người nào thảo luận về vũ trụ trong sở làm của tôi.
ERBEST RUTHERFORD
 



TÂM KHÔNG


Khi tâm trí không ở nơi nào thì nó ở mọi nơi. 
Khi nó bị chiếm một phần mười này thì nó vắng mặt cả trong chín phần mười kia.
TRẠCH AM TÔNG BÀNH
 

Nếu gặp Phật, giết Phật.
LÂM TẾ 
 

Toàn mãn tâm trí là một trạng thái trong đó, ta nhận thức trọn vẹn dù ở bất cứ tình huống nào, và như thế có khả năng đáp ứng thích đáng. Hơn nữa, ta nhận thức về hành động đang nhận thức. Ngược lại, vô tâm trí, hoặc "trạng thái tâm không", như nó được gọi thế, là một trạng thái hấp thu đầy đủ tới độ chẳng có vết tích nào của sự tự nhận thức.
PHILIP KAPLEAU
 

Ðùng nghĩ: Nhìn!
WITTGENSTEIN
 

Khi bạn cố ngưng hoạt động để đạt tới trạng thái bị động thì chính nỗ lực của bạn làm bạn đầy ứ hoạt động.
TĂNG XÁN
 

Tâm trí của một người toàn hảo giống với chiếc gương. Nó chắng nắm lấy cái gì cả. Nó chẳng kỳ vọng cái gì cả. Nó phản chiếu nhưng nó không lưu giữ. Do đó, người toàn hảo có thể hành động mà không gắng sức.
TRANG TỬ
 

Chân lý của một vật là cái cảm nhận về nó, không là cái suy nghĩ về nó.
STANLEY KUBRICK
 

Minh triết giống như một đống lửa, không thể đi vào nó từ bất cứ phía nào.
Minh triết giống như ao trong veo và êm mát, có thể đi vào nó từ bất cứ phía nào.
LONG THỌ
 

Minh triết thì tiềm tàng trong mọi vật như chúng đúng là chúng, hơn là trong mọi từ ngữ mà con người sử dụng.
SAINT-EXUPÉRY
 

Không ai chịu trách nhiệm tạo ra lỗi lầm hơn là kẻ chỉ hành động dựa vào sự ngẫm nghĩ.
VAUVENARGUES
 

Lũ ngỗng trời không dự tính mỗ cái hình phản chiếu của chúng.
Nước cũng không có ý định tiếp nhận hình ảnh của chúng.
HÀI CÚ
 

Cứ suy nghĩ cho đã đời rồi bạn sẽ chẳng biết gì cả.
KENNETH PATCHEN
 

Làm thế nào loài người biết điều gì đang đến và sắp đi qua trong họ trong khi chẳng có ngôn từ nào nắm bắt được nó? Làm thế nào những giọt nước hiểu chính chúng là một dòng sông? Tuy thế dòng sông tiếp tục chảy.
SAINT-EXUPÉRY
 

Khi bạn ở biển, hãy giữ mình cách xa đất.
PUBLILIUS SYRUS
 

Trong mọi thành phần và mọi ngóc ngách của cuộc sống chúng ta, thì đánh mất bản thân là để làm người thắng cuộc và quên mình là có hạnh phúc.
ROBERT L. STEVENSON
 

Chúng ta chỉ có thể hiện hữu bằng việc tách tâm trí mình khỏi sự kiện chúng ta hiện hữu.
THOMAS BERNHARD
 

Thỉnh thoảng tôi suy nghĩ và thỉnh thoảng tôi là tôi.
PAUL VALÉRY
 

Ông chủ ơi, ông suy nghĩ nhiều quá!
A. QUINN 
trong phim Zorba the Greek
 

Tâm trí chỉ tự do khi nó rủ sạch mọi liên quan mật thiết với các hữu thể và các đối tượng, đồng thời nó dàn trải sự trống rỗng của chính nó.
E.M. CIORAN
 

Tâm không thì vô tư nghị về vô vạn vật.
ÐỨC PHẬT
 

Khi tôi đang giải quyết một vấn đề thì không bao giờ tôi nghĩ tới cái đẹp. Tôi chỉ nghĩ tới cách giải quyết vấn đề ấy. Nhưng khi xong việc, nếu giải pháp ấy không đẹp thì tôi biết rằng mình đã sai.
R.B. FULLER
 

Mục đích cao nhất là chẳng có chút mục đích nào. Ðiều ấy khiến ta hòa hợp với vạn vật theo lề thói vận hành của vạn vật.
JOHN CAGE
 

Người ta nghĩ rằng ban nhạc Beatles chúng tôi biết rõ điều gì đang diễn ra. 
Không, chúng tôi chẳng biết gì. 
Chúng tôi chỉ đang làm điều đó.
JOHN LEMMON
 

Bạn yêu cầu tôi định nghĩa nhạc Jazz ư? 
Bạn ạ, nếu bạn buộc lòng phải hỏi thì bạn sẽ không bao giờ biết.
LOUIS ARMSTRONG
 

Ðời tôi không mục đích, không định hướng, không mục tiêu, không ý nghĩa, và tuy thế, tôi hạnh phúc. Tôi không thể miêu tả nó. Ðiều tôi đang làm có đúng không đấy?
CHARLES M. SCHULZ
 

Một người say bị té xe ngựa, dù đau đớn tới mấy cũng không chết. Xương của hắn cũng giống hệt của mọi người nhưng hắn gặp tai nạn theo cách khác. Tinh thần của hắn ở trong trạng thái an toàn. Hắn không ý thức đang đi bằng xe ngựa, hắn cũng không ý thức về việc té xe. Các ý tưởng về sống, chết, sợ hãi và những cái như thế không thể xâm nhập lồng ngực hắn; và như thế hắn không khổ sở do sự tiếp xúc với hiện thực khách quan. Nếu sự an toàn như thế mà có được nhờ rượu thì an toàn biết bao khi có được từ Thượng đế.
TRANG TỬ
 

Bạn sẽ thọ tới mấy tuổi nếu bạn không biết bạn đã bao nhiêu tuổi.
SATCHEL PAIGE
 



HƯ KHÔNG


 


Ngưới ta nắn đất sét để làm chiếc bình, nhưng công dụng của chiếc bình nằm ở chỗ bên trong trống rỗng của nó... 
Vậy thì khai thác "có" để làm cái lợi thế và lấy cái "không" để làm cái ứng dụng.
LÃO TỬ
 

Thượng đế tạo dựng mọi sự từ hư không nhưng cái hư không thì biểu lộ qua mọi sự.
PAUL VALÉRY
 

Chính hư không tạo cho chúng ta cái gì đó, 
chính cái chúng ta không thấy mới tạo ra cơ đồ.
7-UP JINGLE
 

Thực chất của Thượng đế là một vòng tròn mà tâm điểm ở mọi nơi và chu vi không ở nơi nào cả.
EMPEDOCLES
 

Tới nay, tôi mới hiểu hạnh phúc thật thì nằm trong những cái mắt không thể thấy hoặc tay không thể sờ.
VÔ DANH
 

Trò chơi ấy không phải là để sắp trở thành một nhân vật nào đó mà là để trở thành một người chẳng ai để ý.
BABA RAM DASS
 

Sự vật chỉ là cái dường như chúng hiện hữu, và đằng sau chúng... chẳng có gì sất!
SARTRE
 

Hư không là cái vĩ đại hơn tất cả những cái vĩ đại được tìm thấy trong chúng ta.
JOHN CAGE
 

Nhìn vào hư không — đó là cái nhìn chân chính, cái nhìn vĩnh cửu.
THẦN HỘI
 

Ðặt ba chục nan hoa vào nhau và gọi là bánh xe
Nhưng nhờ chỗ "không" mới dùng được bánh xe.
Nhồi đất sét để làm ra chén bát
Nhưng nhờ bên trong trống rỗng nên chén bát mới dùng được.
Khoét cửa lớn cửa sổ và làm buồng the
Nhờ khung cửa và bên trong buồng trống rỗng mới dùng được
Bởøi vậy
Lấy cái "có" để làm lợi thế,
Lấy cái "không" để mà dùng.
LÃO TỬ
 

Thật chính xác vì không có gì bên trong cái Ðấng mà từ đó phát xuất mọi sự.
PLOTINUS
 

Ngoài cái biết và cái không biết, ở đó còn có cái gì khác?
HAROLD PINTER
 

Vốn từ không gốc và từ không mà đến, lại từ không mà đi. 
Ta vốn không đến không đi nên cái sống cái chết không làm lụy nổi ta. 
NHƯ TRỪNG LÂM GIÁC
 

Tới khoảnh khắc đã định, tôi mở mắt và hiện hữu. 
Và trước đó, suốt toàn bộ vĩnh cửu ấy, có cái gì ở đó? 
Không gì cả.
UGO BETTI
 

Mất một thời gian dài để hiểu rằng không có gì cả.
EDWARD DAHLBERG
 

Sự bất an giữ cho chiếc-đồng-hồ-siêu-hình-không-bao-giờ-ngừng tiếp diễn chính là ý nghĩ rằng tính phi hiện sinh của thế giới này thì cũng cực kỳ giống tính hiện sinh của nó.
WILLIAM JAMES
 

Vô: Theo nghĩa đen là "không" hoặc "chẳng có". Vô nghĩa là sự vắng mặt mọi sự, nhưng nó không có nghĩa là "chẳng có gì" — nó vượt quá sự phân biệt hão huyền giữa khẳng định và phủ định, và đôi khi được dịch là "không hai" (bất nhị). Người ta nói rằng một khi bạn thấu hiểu Vô là bạn thấu hiểu Thiền.
 

Mọi sự thì thuộc bản tính của không sự nào.
PARME NIDE
 

Xuân sang hoa bướm khéo quen thời,
Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kì.
Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo,
Thây hoa, mặc bướm, để lòng chi.
GIÁC HẢI
 

Ðiều duy nhất trong sự phòng thủ của tôi, vàø cái đó không thành vấn đề: Tôi biết cái mà Carter, hoặc Helen, hoặc có thể kể cả anh, không bao giờ biết. Tôi biết "hư không" nghĩa là gì, và ta hãy tiếp tục đùa giỡn.
JOAN DIDION
 

Tôi hai mươi tuổi khi tôi đi vào, ba mươi mốt tuổi khi tôi đi ra. 
Bạn không tính tháng tính năm — bạn không tính thời gian theo kiểu đó. 
Bạn phải quên thời gian, bạn phải cóc cần việc mình sống hay chết. 
Bạn phải tới chốn mà hư không là hư không.
JAMES CAAN trong phim Kẻ trộm (Thief)
Ðạo diễn: MICHAEL MANN
 

Mọi sự tùy thuộc vào điều này: tính khôn dò đang chìm vào hư không khôn dò.
JOHANNES TAULER
 

Hãy hành động mà không hành động, 
làm mà không làm, 
nếm mà không nếm.
LÃO TỬ
 

Chư Phật đều giảng sự trống rỗng. 
Tại sao? 
Vì các ngài muốn nghiền nát những ý tưởng cứng nhắc của đệ tử. 
Nếu đệ tử còn bám víu vào ý tưởng về sự trống rỗng thì hắn đang phản bội Chư Phật.
BỒ ÐỀ ÐẠT MA
 

Nguyên lai của hết thảy các thức đất, nước, lửa và gió đều là không.
ÐẠO HUỆ
 

Các nốt nhạc tôi vừa đánh không hay hơn các tay đàn dương cầm khác. Nhưng có những chỗ lặng giữa các nốt nhạc — và cái hay nằm ở những chỗ không đánh đó.
ACTUR SCHNABEL
 



NHƯ NHẤT


 


Hư không được sinh ra, hư không bị hủy diệt. 
Hãy vứt hết sự duy nhị nguyên của bạn, những thích và không thích của bạn. 
Mọi sự giản dị là chỉ Tâm-Nhất. 
Khi bạn nhận thức được điều này, bạn sẽ leo lên Luân Xa của Chư Phật.
HOÀNG PHỐ
 

Nhìn toàn bộ; hoặc mọi sự còn lại là hoang tàn.
JOHN FOWLES
 

Tất cả pháp không sinh,
Tất cả pháp không diệt,
Nếu hiểu được như thế,
Chư Phật thường hiện tiền,
Có chi là đi lại.
TRẦN NHÂN TÔNG
 

Mọi con số đều là các bội số của một. Mọi khoa học đều đồng quy về một điểm chung, mọi minh triết đầu xuất phát từ một tâm điểm, và con số của minh triết là một.
PARACELSUS
 

Chân lý là, mọi sự là Một, và dĩ nhiên đây không phải cái một bằng con số.
PHILIP KAPLEAU
 

Dàn dựng cái ta thích để chống lại cái ta không thích, đó chính là bệnh tật của tâm trí.
TĂNG XÁN
 

Và mọi sự trở nên Một,
Và chúng tôi tiếp tục nhảy múa, nhảy múa, nhảy múa...
THEODORE ROETHKE
 

Mọi sự y như nhau,
Mọi sự tách bạch nhau.
LỜI THIỀN
 

Cần có muôn duyên có,
Ưng không tất cả không.
Có không, hai chẳng lập
Ánh nhật hiện lên cao.
TÔNG DIỄN
 

Trong toán học vô cực không có số dư. Toàn sự sống là một; do đó không thể có thượng đế và con người, cũng như vũ trụ và thượng đế. 
Một thượng đế không trong thế giới này là thượng đế giả, và một thế giới không trong thượng đế là thế giới không thật. 
Toàn vạn vật trở về một, và một thao tác trong mọi sự.
NYOGEN SENZAKI
 

Trong cái "Không Hai" không có mọi vật tách biệt, như thế toàn bộ vạn vật được gồm vào.
TĂNG XÁN
 

Kiến thức là một. Sự phân chia nó thành nhiều chủ đề là sự nhượng bộ tình trạng yếu kém của loài người.
Sir H.J. MACKINDER
 

Mọi người đều biết rằng giọt nước ấy thì lẫn vào đại dương nhưng ít người biết rằng đại dương thì hòa vào giọt nước ấy.
KABIR
 

Mọi sự trong vũ trụ đều được liên kết, mọi sự đều thẩm thấu. Bạn không thể tách bất cứ cái phần nào ra khỏi cái toàn thể: sự tương liên thống trị trật tự vũ trụ.
TAISEN DESHIMARU
 

Cái Một thì không khác chút nào với cái Tất cả, cái Tất cả thì không khác chút nào cái Một.
TĂNG XÁN
 

Và ta cảm thấy... một cảm giác siêu tuyệt
Của cái gì đó được trộn lẫn hết sức sâu xa
Những cái trú ngụ trong ánh sáng mặt trời đang lặn
Và biển cả tròn đầy và không khí sống động
Và bầu trời xanh, và trong tâm trí của con người
Một cử chỉ và một linh hồn, đều thúc ép
Mọi vật đang suy nghĩ, mọi đối tượng của mọi ý nghĩ
Và lăn qua mọi vật.
WORDSWORTH
 

Người biết và cái được biết là một. Người mộc mạc tưởng tượng rằng họ nên thấy Thượng đế, như thể Ngài đứng ở đó và họ đứng ở đây. Không phải như thế. Thượng đế và tôi, chúng tôi là một trong kiến thức.
MEIESTER ECKHART
 

Người suy nghĩ và cái suy nghĩ là một.
KRISHNAMURTI
 

Minh triết cao nhất chỉ có một khoa học duy nhất — khoa học về cái tổng thể — khoa học giải thích sự sáng tạo mang tính tổng thể và chỗ của con người trong sự sáng tạo đó.
TOLSTOY
 

Khi bạn ngồi theo tư thế kiết già, bàn chân trái của bạn đặt trên bắp đùi phải và bàn chân phải của bạn đặt trên bắp đùi trái. Khi bạn bắt chéo chân như thế, dù chúng ta có hai chân — chân trái và chân phải — nhưng cả hai trở thành một. Tư thế ấy biểu lộ trạng thái như nhất của nhị nguyên: không hai và chẳng một. Ðây là lời giảng quan trọng nhất: không hai và chẳng một. Nếu bạn nghĩ rằng thân và tâm là hai, vậy là sai; nếu bạn nghĩ chúng là một, vậy cũng là sai. Thân và tâm là cả hai lẫn một.
SHUNRYU SUZUKI 
 

Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai.
 

Mọi hữu thể đều là Phật. Mọi hữu thể đều là chân lý, đúng như chúng hiện hữu.
ROBERT AITKEN
 

Ngừơi ở trên lầu hoa dưới sân,
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông,
Hồn nhiên người với hoa vô biệt,
Một đóa hoa vừ mới nở tung.
HUYỀN QUANG 
(1254-1334)
(Nguyễn Lang dịch)


PHỤ LỤC I


 


Thiền và Kệ

Kệ: gọi tắt của âm chữ Phạn Kệ đà, cũng đọc là Già tha, Già đà, dịch là Tụng, Phúng tụng. Kệ là đạo từ được thăng hoa thành thơ như một bài ca sung mãn, nói lên bằng âm thanh và vần điệu của con người vượt thế; một thể loại văn học của nhà chùa, đặc biệt tại Trung Hoa và Việt Nam. Người viết nên kệ phần nhiều là các Tì kheo, Thiền sư, và đôi khi Cư sĩ.

Hình thức căn bản của Kệ là thể thơ bốn câu, với số chữ của mỗi câu bằng nhau: năm hoặc bảy chữ – ngũ ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn tứ tuyệt. Cũng có những bài trường thi cả trăm câu, dài ngắn xen kẽ, để giải thêm cho rộng nghĩa một bài thuyết pháp. Cũng có những kệ gồm bốn câu ba chữ hoặc bốn chữ.

Có nhiều loại kệ. Kệ ca tụng công đức của Phật, Bồ Tát. Kệ gom đại ý của một thời kinh, một cuộc thuyết pháp. Kệ bày tỏ lòng cảm mến, lòng tin tưởng vào Tam Bảo. Kệ nói lên ý nguyện và tâm niệm tu trì trong ngày thọ giới. Kệ thổ lộ cảm giác an lạc nhẹ nhàng khi đã đi hết đường trần, hoàn thành công việc đã làm. Loại kệ có tính giáo huấn được gọi là Kiệt, nghĩa là thâu tóm hết ý nghĩa.

Giữ đúng qui định nghiêm ngặt của thể thơ như một lối giới luật, và vượt qua chúng như một người chứng ngộ, Kệ cho thấy sự kết tinh và hài hòa của con tâm tăng tiến, phóng khoáng, trang trọng, ung dung tự tại, và mức độ giác ngộ của hành giả. Kệ xuất hiện trước Thiền. Từ ngày có Thiền, Kệ thành chứng đạo ca của người đốn ngộ, một loại thơ vượt thơ, tình ý phơi phới trong trạng thái hồn nhiên vô ngã vô tư nghị. Trong Bích Nham Lục và Vô Môn Quan, Kệ là chìa khóa giúp thiền sinh phá công án. Thí dụ bài Kệ trong Vô Môn Quan, công án thứ 19:

Xuân có trăm hoa, thu có trăng
Hạ về gió mát, tuyết đông giăng
Ví lòng thanh thản không lo nghĩ
Ấy buổi êm đềm chốn thế gian.
(Trần Tuấn Mẫn dịch).

Một bài kệ tụng nổi tiếng của Thiền sư Trung hoa Linh Vân Chí Cần, tả lại khoảnh khắc ngắm hoa đào nở mà triệt ngộ:

Ba chục năm qua tầm kiếm khách
Bao lần lá rụng với cành trơ
Từ khi được thấy hoa đào nở
Cho đến ngày nay chẳng chút ngờ.

Trần Nhân Tông, Thiền sư khai sáng phái Trúc Lâm Yên Tử, để lại nhiều bài thơ là kệ, kệ là thơ, trong đó có bài:

Thân như hơi thở ra vào mũi,
Ðời giống mây trôi đỉnh núi xa,
Chim Quyên kêu rã bao ngày tháng
Ðâu được ngày xuân để luống qua.

Và dưới đây là bài kệ lưu truyền của Lục Tổ Huệ Năng lúc đang là cư sĩ, được Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn, sau khi nghe bài kệ, trao y bát:

Bồ đề bản vô thụ,
Minh kính diệc phi đài.
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai?
[Bồ đề vốn không có cây,
Gương sáng cũng không phải đài.
Nguyên lai không có vật gì cả,
Bụi đời còn bám vào đâu?]

Và bài kệ về yếu chỉ Thiền Tông của Sơ tổ Bồ Ðề Ðạt Ma:

Giáo ngoại biệt truyền,
Bất lập văn tự,
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.
 

Thiền và Hài cú

Trong thế giới thi ca nhân loại, Hài cú của Nhật là thể thơ ngắn nhất. Có người dịch sang tiếng Việt là Bài cú.

Một bài thơ hài cú chỉ gồm ba câu, theo thứ tự tiết tấu đa âm của Nhật ngữ là câu đầu 5, câu giữa 7 và câu cuối 5. Tuy ngắn gọn đến thế, hài cú đủ khả năng chuyên chở cảm xúc và ánh lóe sáng đột xuất của trực giác. Trong hài cú, không có loại chữ nghĩa hay hình ảnh mang tính tượng trưng. Nó chộp lấy sự sống đang tuôn trào rồi tĩnh lặng và nói gọn gàng thành lời.

Hài cú mang tính bất nhị nguyên và quả thật không có chỗ hiện diện cho con người và cái tôi của tác giả. Bài hài cú cô đọng những chất liệu trông có vẻ đơn giản của cuộc sống hàng ngày — chiếc lá đang lìa cành, tuyết đang rơi, ao nước, con ruồi, con cóc, cánh bướm, v.v. 

Hài cú trình bày với người đọc một lối nhìn vào cuộc sinh hoạt của vạn vật và đạt tới giác ngộ, dù chỉ một thoáng qua. Hài cú không phải là Thiền nhưng Thiền là hài cú. Nói theo lời R.H. Blyth, "Hài cú là đóa hoa sau cùng của văn hóa phương đông."

Hài cú được nâng lên thành một thể thơ và giữ cố định cho tới ngày nay bởi thi hào vĩ đại Tùng Vĩ Ba Tiêu (Matsuo Bashò, 1644-1694). Hầu hết các bài hài cú của ông đều có liên quan tới thiên nhiên. Ông rất yêu thiên nhiên và con người. Nơi con người, ông thấy được sự ưu đãi của thiên nhiên, vũ trụ, sự quí báu vô cùng khi được làm người. 

Có thể kể thêm các thi sĩ Nhật khác như Buson, Issa, Ryokan và Shiki. Cùng với các bộ môn nghệ thuật của Nhật thẩm thấu Thiền tính, hài cú gợi lên tính chất sabi, nghĩa là sự tĩnh mịch, cô đơn và an nhiên tự tại, cùng với tính chất wabi, nghĩa là vô ngã, đơn sơ và mộc mạc.

Thơ hài cú nói chung thường đề cập tới tứ thời bát tiết, như lộc non mùa xuân, cành khô mùa thu. Và chừng mực như mọi bộ môn nghệ thuật "hữu Thiền", hài cú biết dừng lại khi cảm thấy đã nói vừa đủ.

Hài cú của Ba Tiêu:

Ta không thích trẻ con,
Ai nói vậy sẽ không thấy được
Những nụ hoa chớm nở.
(Nguyễn Tường Bách dịch)

hoặc:

Con bướm 
Ðậu trên chiếc chuông trong đền
Thiu thiu ngủ.
 
 

Thiền và Trà

Suốt một ngàn năm trăm năm nay Thiền và Trà có tương quan mật thiết. Và dây liên hệ đó hẳn sẽ kéo dài tới vô tận. Câu chuyện Trà đạo Nhật Bản bắt đầu khi vị Thiền sư Nhật đầu tiên là Minh Am Vinh Tây (Myoan Eisai, 1141-1265) thuộc tông Lâm Tế, vượt trùng dương, mang trà từ Trung Hoa về quê hương hải đảo của mình. Tới thế kỷ 16, Rihyu, một môn đồ của Thiền, cao nhã hóa nghệ thuật uống trà bằng các qui định đặc sắc, nâng việc dùng trà lên thành Trà đạo – chadò.

Y hệt Thiền, trà đạo (đường lối hay nghệ thuật dùng trà) nhắm tới sự đơn sơ mộc mạc. Một cách giản dị, nó bao gồm việc đun nước, chuẩn bị trà và uống trà. Tinh thần của trà đạo là hòa hợp, trang trọng, tinh khiết, tĩnh lặng, mộc mạc và cô đơn. Tinh thần ấy cũng ảnh hưởng sâu xa lên các bộ môn nghệ thuật khác như cắm hoa, làm đồ gốm, kịch nghệ và kiến trúc. 

Người ta thường tiến hành nghi lễ trà đạo trong một lều tranh giản dị — "nơi cư ngụ của hư không". Vật dụng thì ít ỏi và rất đơn sơ. Trong phòng thường chỉ có một bình cắm sẵn hoa và một bức tranh.

Khách uống trà nhiều nhất bốn năm nguời, tụ họp trong phòng trà. Nghênh đón ẩm khách là tiếng nhạc của ấm nước — bên trong sắp lớp mấy miếng kim loại nhỏ. Khi hơi nước luồn qua, chúng tạo nên âm thanh gợi nhớ và có ấn tượng tiếng thác nước suối đang đổ xa xa hoặc tiếng gió thổi qua cành thông. Có một chuỗi những qui định nghiêm cẩn về cách rót, cách gạn nước trà xanh, cách phục vụ, sự trang trọng khi chuyền nhau ấm trà và tách trà, cách nâng tách và cách uống. Ðối với một số người, những qui định "nhiêu khê" này xem ra có vẻ nghịch lý với yêu cầu mộc mạc, nhưng đối với khách trà đạo Nhật, chúng giúp họ có thể sở đắc một trạng thái nghệ thuật phi nghệ thuật.

Trong Thiền Trung Hoa, cái cốt lõi của nghệ thuật uống trà không nằêm trong những nghi thức nghiêm ngặt như thế nhưng ở khung cảnh tịch lặng và người đồng ẩm tương thông tương đắc. 

Dù theo cách của Trung Hoa hay của Nhật Bản, nghệ thuật chính của Trà đạo vẫn là làm quên đi những nghi thức có tính nhị nguyên, không có trà và nghệ thuật uống trà mà chỉ có trà, mang ý nghĩa một tâm thức vô phân biệt.

Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm (778-897) có để lại một bài dạy liên quan tới trà.
 

Sư thường hỏi các tăng đến xin chỉ bảo:
- Uống trà chưa?
Có tăng trả lời:
- Từng đến.
Có tăng trả lời:
- Chưa từng đến.
Sư đều bảo cả hai:
- Uống trà đi!

Viện chủ thấy thế thường thắc mắc trong bụng. Cuối cùng, hết nín nổi, ông hỏi Sư:

- Tại sao trong cả hai trường hợp, Sư đều bảo "Uống trà đi!"
Triệu Châu bèn quát lớn:
- Viện chủ!
Viện chủ thưa lẹ làng:
- Da!
Triệu Châu bảo:
- Uống trà đi!
Nghe thế, viện chủ tỉnh ngộ đôi chút.
 

Thiền với Thư và Họa

Tại á đông, Thư pháp là một loại hình nghệ thuật được đánh giá cao nhất. Riêng ở Trung Hoa, nó xuất hiện trước Thiền, và không phải những bức thư pháp xuất sắc nhất đều có liên quan tới Thiền. Nhưng từ những khởi đầu của mình, Thiền tìm thấy mối quan hệ tự nhiên với phẩm chất thanh nhã và trang trọng trên con đường ngọn bút lông "tầm đạo" trên giấy.

Thư pháp được nhân gian xem là nghệ thuật cốt tủy của mọi loại hình nghệ thuật vì nó thể hiện đầy đủ tâm trạng của người nghệ sĩ. Với Thiền tính, trong Thư pháp, người ta xem việc "viết đẹp" không bằng gói ghém vào "đường bay của chữ" tâm trạng tác giả và biểu tượng cô đọng của nghệ thuật và của cuộc sống.

Dùng năng lực tập trung cao độ được sở đắc bởi quán tưởng, nhà nghệ sĩ và hành giả ấy có khả năng biểu lộ tính sáng tạo nhất trong nét chữ của mình. Với Thiền tính, thư pháp của một người thay đổi hẳn sau khi sở đắc giác ngộ, sở hữu một sức sống nội tâm dồi dào và mới mẻ được thể hiện qua những nét chữ minh bạch, dứt khoát và thanh thoát như "hạc bay phụng múa!".

Với các Thiền sư, các tác phẩm, những bài văn, những chữ họ viết ra còn được gọi là "mặc tích – dấu mực". Còn hơn một tác phẩm, chúng biểu hiệu một sự thật sinh động, xuất phát từ trải nghiệm Thiền. Các "mặc tích" được các thiền sư tặng cho môn đệ hoặc để lại cho đời là dấu ấn chứng ngộ, sự ký thác tâm nguyện và đồng thời là gia tài nghệ thuât.

Hội họa thủy mặc là một loại hình nghệ thuật có tính Thiền với sự diễn tả cao nhất và đầy khí lực nhất của nó. Họa sĩ Thiền cho thấy cuộc sống nội tâm sung mãn và sự hiệp thông sâu xa với thiên nhiên. Như một hành giả, họa sĩ tiếp cận khung vải với trạng thái hành thiền trong tĩnh lự "khung vải trống rỗng, tâm trí trắng xóa." Lúc ấy, cái đẹp nằm ở hàng thứ yếu, vì cứu cánh chính là sự chênh vênh, và tột điểm của chênh vênh là trạng thái quân bình nội tại.

Không gian trống rỗng của bức tranh thì có thật không kém các vật và các khối; cái bị loại ra thì quan trọng không kém cái được họa sĩ đem vào.

Dùng ngọn bút lông đã chấm mực trên nền lụa hoặc trên nền giấy bột gạo đòi hỏi một sự chủ động ớ mức cao nhất. Nét hạ bút đầu tiên cũng là nét tối hậu vì không thể sửa sai hoặc đồ đi tô lại.

Trong không khí tràn đầy im lặng, phi thời gian và trong suốt, các bức họa thủy mặc gợi cho ta một thực tại tuyệt đối, nằm bên kia mọi diễn tả của hình ảnh và ngôn từ. Nói theo cách của một nhà viết sử hội họa phương tây: "Chúng là những mật mã của sự siêu việt."
 

Thiền và Võ

Nếu bạn hướng tâm trí của mình vào chuyển động cơ thể của đối phương, tâm trí của bạn sẽ bị lấy mất bởi chuyển động của cơ thể đối phương. 

Nếu bạn hướng tâm trí của mình vào kiếm của đối phương, tâm trí của bạn sẽ bị lấy mất bởi kiếm của đối phương.
Nếu bạn hướng tâm trí vào hành động của đối phương, tâm trí của bạn sẽ bị lấy mất bởi tình huống chờ đối phương ra đòn.
Nếu bạn hướng tâm trí của mình vào kiếm của bạn, tâm trí của bạn sẽ bị lấy mất bởi kiếm của bạn.
Nếu bạn hướng tâm trí của mình vào việc không bị trúng đòn, tâm trí của bạn sẽ bị lấy mất bởi lòng ao ước không bị trúng đòn.
Nếu bạn hướng tâm trí vào thái độ của đối phương, tâm trí của bạn sẽ bị lấy mất bởi thái độ của đối phương.
Tóm lại, bạn không có chỗ nào để hướng tâm trí của mình vào.

Ðó là những lời của Thiền sư Trạch Am Tông Bành (Takuan Sõhõ; 1573-1645) truyền đời cho giới võ sĩ đạo Nhật Bản. Song song với việc tu tập Thiền, Sư còn nghiên cứu Thư pháp, Thi pháp và Kiếm đạo, v.v. và áp dụng Thiền tông vào các môn ấy.

Việc theo đuổi để luyện tập tới nơi tới chốn và thể hiện nhuần nhuyễn các bộ môn nghệ thuật đòi hỏi một quá trình kỷ luật và tự chủ. Chú ý, mộc mạc, thanh thoát, vô ngã và như nhất, các đặc tính ấy của Thiền đã được người Nhật đưa vào các bộ môn nghệ thuật, và nâng chúng lên thành "đạo", một con đường để sống và để đạt tới cảnh giới giải thoát cao nhất: Hoa đạo, Cung đạo, Kiếm đạo, Không thủ đạo, Nhu đạo, và đặc biệt Hiệp khí đạo, v.v.

Khởi đi từ Tung sơn Thiếu Lâm tự, nơi võ thuật mang tinh thần Thiền tông đã giúp các vị sư có đủ "sức khỏe thân tâm" để tu tập và cả ngàn rưỡi năm nay, góp phần xây dựng các thế hệ thanh niên khang kiện thể xác, minh mẫn trí tuệ và phong phú tâm linh. Và tinh thần ấy đã trở thành truyền thống chung của các nước cùng văn hóa với Trung Hoa là Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Trong cuốn sách tường thuật theo lối cố điển của mình, "Zen in the Art of Archery - Thiền và Nghệ thuật bắn cung", triết gia Ðức Eugen Herrigel tìm kiếm cái cốt tủy của Thiền trong sự luyện tập của một cung thủ nói riêng, và người luyện võ nói chung — để khám phá ra nơi mà nghệ thuật trở thành phi nghệ thuật, bắn trở thành không bắn, cây cung biến thành mục tiêu của tác xạ. "Tôi e rằng tôi chẳng còn hiểu chút nào cả," tôi trả lời, "thậm chí những cái đơn giản nhất cũng đang bị lẫn lộn lung tung. Có phải tôi là kẻ kéo chiếc cung hay chiếc cung đang kéo tôi? Có phải tôi đang bắn trúng mục tiêu hay mục tiêu đang bắn trúng tôi?[.] Cung, mũi tên, mục tiêu và cái tôi, tất cả hòa trộn thành một cái duy nhất tới độ tôi không còn có thể phân biệt chúng. Và thậm chí cũng chẳng còn nhu cầu phân biệt. Vì ngay khi tôi cầm cung và bắn, mọi sự trở thành cực kỳ sáng tỏ, dứt khoát và giản dị một cách tức cười..." [.] Vị sư phụ xen vào, nói: "Cưối cùng, dây cung lúc này cắt ngang con người anh".

Khi theo đuổi tinh thần của Thiền, thuật đánh kiếm hay Kiếm đạo, giống như bắn cung, đã trở thành một kỷ luật tinh thần. Kiện tướng đánh kiếm "hữu Thiền" và cao thủ Kendo — thuật đánh kiếm của Nhật Bản — thường được huấn luyện trong tinh thần của Thiền. Nó chính là một cách thức khác để con người tìm kiếm mushin "tâm không – tâm vô". Khi kiếm thủ vượt quá các giới hạn của kỹ thuật và hoàn toàn đặt qua một bên hết thảy các khái niệm, các tham vọng biễu diễn tài nghệ hoặc chiến thắng cuộc đấu, thì thanh kiếm và kiếm thủ nhập làm một. Các ý nghĩ và cảm xúc theo nhau bỏ đi khi kiếm thủ trở về cái "tâm sơ căn" nguyên thủy của mình. Ðó là trạng thái wabi: vô ngã. Trạng thái đó được Thiền sư Taisen Deshimaru diễn tả tinh tế trong cuốn sách ông viết dành cho các môn võ "The Zen Way to the Martial Arts – Ðường Thiền trong Võ thuật."

Chú ý trong khổ luyện, an trụ trong chiến đấu, thấy tĩnh trong cái động, như nhất tinh, khí và thần, v.v. những cái đó tiềm ẩn trong tự tại, vô ngã và bất nhị. Nếu thay chữ Phật bằng chữ Ðạo ứng dụng vào bộ môn võ thuật, ta có thể tìm được sự ứng dụng của cuốn "Sáu cửa vào động thiếu thất" của Sơ tổ Bồ Ðề Ðạt Ma. 

Thi dụ: "Cửa thứ sáu: Huyết mạch luận":

Phật là tự tâm tạo nên. 
Sao lại lìa tâm ấy mà tìm Phật? 
Cho nên Phật trước Phật sau chỉ nói đến tâm.
Tâm tức là Phật.
Phật tức là tâm.
Ngoài tâm không Phật.
Ngoài Phật không tâm.
 

Quán tưởng và Tọa thiền

Quán tưởng và Tọa Thiền là hai cái khác nhau. Tọa Thiền là hành thiền, còn Quán tưởng thì có tính cách chiêm nghiệm, nhắm vào nhiều mục đích.

Trung tâm của việc thực hành Thiền chính là Tọa Thiền, hoặc là "ngồi trong sự trầm lắng".

Dù có gốc rễ trong các thực hành chiệm nghiệm thời cổ đại, Tọa Thiền khác với các hình thức quán tưởng, chủ yếu là trong việc Tọa Thiền, thiền sinh không dùng tới các khái niệm trừu tượng để "người ngồi" chú tâm vào chúng như trong Quán tưởng.

Trước hết, mục đích của Tọa Thiền là làm tĩnh lặng tâm trí — cái tâm viên ý mã dao động rộn ràng và lệch lạc hằng ngày — và rồi qua nhiều năm thực hành, hành giả đạt tới trạng thái thuần khiết, không suy nghĩ, khiến cho tâm trí của người ngồi có thể nhận ra Phật tính của chính nó.

Quán tưởng là cách thức chiêm nghiệm trong tĩnh lặng, giữ cho không bị dao động bởi ngoại cảnh, để vận dụng khả năng tư duy hay là óc tưởng tượng nhằm giải quyết một vấn đề trừu tượng hoặc luyện tập một thói quen nào đó cho tâm trí, hoặc tạo "sự nhập tâm" cho thể xác, như trong việc luyện tập võ thuật, giải trừ các thói quen xấu, nghiện ngập, v.v... Nếu dùng quán tưởng như một cách thế vận dụng trí óc, lấy Công án Thiền làm đối tượng để "phá Công án", thì gọi là Thiền quán.

Và lại càng không giống với mọi hình thức quán tưởng, Tọa Thiền không đơn thuần là một phương thế để đạt tới cứu cánh.

Ðạo Nguyên Hi Huyền (Dôgen Kigen; 1200-1253) là một trong những Thiền sư có ảnh hưởng lớn nhất của Nhật Bản. Ông từng sang Trung Quốc, theo dòng Tào Ðộng và được chứng ngộ. Ông đã khẳng định: "Tọa Thiền tự nó là giác ngộ. Ngồi một phút là làm Phật một phút."

Từ ngữ "Thiền" cũng có nghĩa là trầm lắng. Và như đã nói ở trên, Tọa Thiền là "ngồi trong trầm lắng". Tọa Thiền quan trọng tới mức nhiều người cho rằng không có Tọa thiền thì không có Thiền. "Chúng sinh đều thành Phật và chúng sinh đã là Phật", đó là một thực tại được sự đồng ýù của cả Phật giáo Ðại thừa lẫn Thiền Tông. Ðành rằng phải đào sâu lời nói bóng gió của Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744): "Không thể thành Phật bằng việc ngồi", Thiền vẫn nhấn mạnh rằng điều khác nhau là tin hiểu cái thực tại "sẽ và đã thành Phật" ấy một cách lý thuyết hay trực ngộ nó. Sự nếm trải trực ngộ chính là giác ngộ và hành trì Tọa Thiền là một phương pháp ưu việt.

Bạch Ẩn Huệ Hạc (Hakuin Ekaku; 1686-1769), Thiền sư Nhật Bản và là một trong những Thiền sư quan trọng nhất của tông Lâm Tế đã viết trong Bạch Ẩn Thiền sư tọa thiền hòa tán: 

"Ôi tọa thiền, như Ðại thừa chỉ dạy, không có lời tán dương nào nói hết. Tu sáu Ba-la-mật hay tu hạnh bố thí, giữ giới hay hành trì, kể sao cho hết. 

Tất cả đều xuất phát từ tọa thiền. Chỉ một lần tọa thiền, công đức sẽ rửa sạch tất cả nghiệp chướng chồng chất từ vô thủy."

Gương phước nổi tiếng nhất về Tọa Thiền là của Sơ Tổ Thiền tông Bồ Ðề Ðạt Ma. Ngài ngồi đưa mặt vào tường (diện bích) suốt chín năm tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự.

Như thế, để hành thiền, người ta không thể không Tọa Thiền. Và nói theo Ðạo Nguyên, ngồi như một cây thông lớn hoặc một ngọn núi, nghĩa là chững chạc, trang nghiêm, đầy phẩm cách và vĩ đại.

Theo truyền thống, người Tọa Thiền ngồi theo tư thế hoa sen, bắt chéo chân đầy đủ thì gọi là kiết già. Hai chân bắt chéo nhau, bàn chân trái kéo lên đặt trên bắp đùi phải; bàn chân phải trên bắp đùi trái. (Chỉ kéo lên gác được một bàn chân thì gọi là bán già). Xương sống hơi nghiêng tới trước, để cho bụng treo lơ lửng tự nhiên trong khi mông hơi lùi để nâng đỡ vững vàng — vì nếu đổ sụm, bạn "đánh mất" mình. Ðầu đưa lên, cằm trầm vào, mắt hé mở và nhìn xuống. Tay đặt trên lòng, ngang bụng và làm thành Thiền ấn, nhưng để bàn tay theo cách Tọa Thiền, nghĩa là bàn tay trái trên bàn tay mặt.

Trong khi giữ cẩn thận Thiền Ấn, thì điều hòa hơi thở. Thông thường, cơ bản là thở bụng, và thở ngực thở vai, chậm và sâu.


PHỤ LỤC II


Giác ngộ và Cứu độ
Thiền thoại
- Thưa thầy, thầy có từng đọc Kinh Thánh?
Nga Sơn Thiều Thạc đáp:
- Chưa, con đọc cho ta nghe với.
Gã đệ tử mở cuốn Tân Ước theo thánh Mat-thêu ra và đọc: 
- Còn về áo mặc cũng thế, các ngươi lo lắng làm chi? Cứ xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên như thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà Ta bảo cho các ngươi biết: ngay cả vua Sa-lo-môn, dù vinh hoa tột bực, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy...
Nga Sơn nói: 
- Dù người nói ra lời ấy là ai đi nữa, ta xem đó là đấng đã giác ngộ.

Chú thích:

Nga Sơn Thiều Thạc (Gasan Jôseki ; 1275-1365) Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc đứng thứ ba của tông Tào Ðộng, sau Sau Ðạo Nguyên và Oánh Sơn. Ông chú trọng tới việc thuyết pháp và hoằng hóa quần chúng, nhất là những người thuộc đẳng cấp thấp của xã hội.
 


Cuộc Khủng Hoảng
Tâm Linh Ngày Nay
Erich Fromm

Trong khi đa số dân chúng sống ở phương tây không cảm thấy rõ ràng rằng mình như thể đang trải qua cuộc khủng hoảng của văn hoá phương tây (có thể chẳng bao giờ họ biết được những căn nguyên của cuộc khủng hoảng trầm trọng ấy) thì ít ra, cũng có một thiểu số các nhà quan sát và phê bình đồng ý với nhau về thực tại và bản chất của nó. 

Người ta mô tả cuộc khủng hoảng ấy là u sầu, chán nản, căn bệnh của thế kỷ, sa sút sinh lực, tự động hoá con người, lìa xa bản thân, lìa xa đồng loại và lìa xa thiên nhiên. Con người đã và đang đi theo chủ nghĩa duy lý tới điểm mà chủ nghĩa duy lý tự nó chuyển biến thành phi lý hoàn toàn. Kể từ Descartes, con người ngày càng tách tư tưởng khỏi cảm xúc; tư tưởng một mình nó được coi là hợp lý — cảm xúc, vì tự bản tính của nó, bị coi là phi lý. Con người, Cái Tôi, bị tách ra thành con người trí năng, cái lập thành Bản ngã, và là cái sẽ kiểm soát tôi cũng như nó sẽ kiểm soát thiên nhiên. 

Việc tri thức kiểm soát thiên nhiên và việc sản xuất ngày càng nhiều đồ vật đã trở thành mục tiêu tối thượng của cuộc sống. Trong quá trình đó, con người biến bản thân thành đồ vật, cuộc sống trở nên lệ thuộc vào tài sản, "hiện hữu" bị khống chế bởi "sở hữu". Tại những nơi mà gốc rễ của văn hoá phương tây, cả Hi Lạp lẫn La Mã, đều xem mục đích cuộc sống là làm cho con người hoàn hảo, thì người hiện đại quan tâm tới việc làm cho đồ vật hoàn hảo, và tới kiến thức về cách làm cho chúng hoàn hảo. 

Trong tình trạng tán loạn tinh thần đó, con người phương tây không có khả năng nếm trải cảm xúc, vì thế hắn lo âu, phiền muộn và khắc khoải. Miệng hắn vẫn đãi bôi nói tới cứu cánh hạnh phúc, chủ nghĩa cá nhân, sáng kiến, nhưng thật ra hắn sống không có cứu cánh. Cứ hỏi hắn sống để làm gì, mục đích mọi sự phấn đấu của hắn là gì thì hắn sẽ bối rối. Một số người có thể trả lời là họ sống cho gia đình, cho người khác, "sống cho vui", còn một số người khác thì nói sống để kiếm tiền, nhưng trong thực tế không người nào hiểu mình sống để làm gì; hắn sống chẳng có mục đích nào ngoại trừ ước muốn chạy trốn khỏi trạng thái bất an và cô độc.

Thật thế, các nơi thờ phượng tấp nập tín đồ hơn bao giờ hết, sách tôn giáo đang ngày càng là những sách bán chạy nhất, số người nói tới Thượng đế nhiều hơn lúc nào cả. Tuy vậy, loại bày tỏ lòng mộ đạo ấy chỉ là phương cách che đậy thái độ duy vật và phi tôn giáo, và nó được hiểu như một phản ứng mang tính ý tưởng — gây ra do bởi bất an và qui thuận — trước xu hướng của thế kỷ 19 mà Nietzsche đã xác định đặc điểm bằng câu nói nổi tiếng: "Thượng đế đã chết." Câu nói đó như một thái độ tôn giáo chân chính chứ không như một thực tại.

Nhìn từ một góc độ nhất định, sự buông bỏ của các ý tưởng vô thần trong thế kỷ 19 không đạt được thành quả nhỏ nhoi nào. Con người lao mình vào khách quan tính. Quả đất không còn là trung tâm của vũ trụ, con người đánh mất vai trò tâm điểm của một sinh vật được Thượng đế an bài cho thống trị mọi sinh vật khác. 

Nghiên cứu những động lực ẩn mật của con người với khách quan tính mới mẻ ấy, Freud nhận ra rằng đức tin vào một Thượng đế toàn năng và thông suốt mọi sự có gốc rễ nơi tình trạng bơ vơ của con người trong cuộc sống và nơi nỗ lực của con người nhằm đối phó với tình trạng không chốn nương tựa của mình bằng niềm tin vào một người cha và người mẹ phù hộ, được tượng trưng bằng một Thượng đế ngự chốn thiên cung. Freud thấy rằng chỉ có con người mới có thể cứu rỗi hắn; lời giảng của các đại sư, sự giúp đỡ đầy ưu ái của cha mẹ, bằng hữu và những người thân yêu có thể hữu ích cho hắn — nhưng chỉ giúp được [nếu] hắn dám chấp nhận thách đố của cuộc đời và ứng phó với thách đố đó bằng tất cả nội lực và toàn bộ tâm hồn mình.

Con người buông bỏ ảo giác Thượng đế như một người cha nhân từ, như một đấng phù trợ có tính cách phụ mẫu — nhưng cùng lúc ấy, con người cũng buông bỏ cứu cánh của mọi tôn giáo nhân văn: khắc phục những giới hạn của cái tôi vị kỷ, đạt tới tình yêu, khách quan, khiêm tốn và tôn trọng cuộc sống để cho mục đích cuộc sống là chính cuộc sống và con người trở thành cái mà nó có khả năng trở thành. 

Những cái đó là cứu cánh của các tôn giáo lớn phương Tây và cũng là cứu cánh của các tôn giáo lớn phương Ðông. Tuy thế, phương Ðông không nặng gánh khái niệm người cha siêu việt và cứu độ mà trong đó các tôn giáo độc thần biểu lộ những khát vọng của chúng. Lão giáo và Phật giáo mang tính hợp lý và hiện thực cao hơn các tôn giáo phương tây. Hai tôn giáo đó có thể nhìn con người một cách thực tế và khách quan, rằng không có ai cả ngoại trừ những con người "tỉnh thức" tự hướng dẫn mình, và có thể hướng dẫn được mình vì mỗi người đều có bên trong hắn khả năng tỉnh thức và giác ngộ. 

Ðó chính là lý do tại sao ngày nay tư tưởng tôn giáo phương Ðông, Lão giáo và Phật giáo — với sự hoà trộn của cả hai trong Thiền Phật giáo — chiếm vai trò quan trọng như thế tại phương tây. Thiền Phật giáo giúp con người tìm thấy giải đáp cho vấn nạn về sự hiện hữu của hắn, một giải đáp giống một cách cốt tủy với giải đáp được đưa ra trong truyền thống Kitô-Do thái giáo, và tuy thế, nó không đi ngược lại tính chất hợp lý, hiện thực và độc lập, những cái quí báu mà con người hiện đại đang thành tựu. Nghịch lý là, tư tưởng tôn giáo của phương đông lại hóa ra thích hợp với tư tưởng luận lý của phương tây hơn là tư tưởng tôn giáo của chính phương tây.

Chú thích:

Erich Fromm (1900-1980), triết gia và nhà tâm lý học người Mỹ, sinh tại Ðức. Ông rời Ðức sang Hoa Kỳ năm 1934 và bắt đầu nổi tiếng với những phân tích gây nhiều tranh luận về những căn bệnh của xã hội kỹ nghệ hiện đại. Trong tác phẩm The Sane Society - Xã Hội Lành Mạnh (1955), ông cáo buộc là xã hội tiêu thụ chịu trách nhiệm về sự cô lập, cô đơn và hoài nghi giữa con người với nhau. Các tác phẩm khác gồm The Art of Loving – Nghệ thuật yêu (1956) và The Revolution of Hope – Cuộc cách mạng của hi vọng (1968)... Một số tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt như Chạy trốn cô đơn, Chạy trốn tự do, Nghệ thuật Yêu...

René Descartes, (1596-1650). Triết gia Pháp, một trong những nhà tư tưởng rốt ráo nhất của mọi thời đại. Sau khi theo học Dòng Tên, ông trải qua 9 năm đi du lịch và thi hành nghĩa vụ quân sự rồi mới bắt đầu nghiên cứu. Năm 1628, ông định cư tại Hà Lan, tới năm 1649, sang Thụy Ðiễn dạy nữ hoàng và qua đời tại đó. Suốt đời, ông là một tín đồ Công giáo La Mã thuần thành.

Cuốn Discourses on Method - Luận Về Phương Pháp - (1637) giới thiệu kỹ thuật hoài nghi một cách có phương pháp của ông, mà ông triển khai thành đại tác phẩm Meditations - Trầm Tư (1641).Từ vấn nạn "Làm thế nào tôi biết và biết cái gì?" ông tiến hành theo một quá trình giảm thiểu vào câu tuyên bố nổi tiếng "Tôi suy nghĩ vậy tôi hiện hữu"õ — Je pense donc je suis. Từ cốt lõi cố định ấy, ông tiến tới việc thanh thoả chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế, và từ đó, sự hiện hữu của mọi sự khác. Với ông, Thượng đế là Ðấng hoàn toàn và tuyệt đối. Ông còn gây được nhiều ảnh hưởng qua thuyết nhị nguyên rằng tâm là cái cốt tủy của con người, và vật. Tuy thế, Descartes cũng như các triết gia khác, không bao giờ trả lời thỏa đáng tại sao tâm và vật lại có thể tương tác. Ông còn những đóng góp quan trọng về thiên văn học, đại số, hình học và địa lý.

Friedrich Nietzsche (1844-1900), triết gia Ðức. Ông lập luận rằng "ý chí quyền lực" là đặc trưng chủ yếu của loài người, trong cuốn The Birth of Tragedy - Sự Ra Ðời của Bi Kịch (1872); và ông ca ngợi con người là tự do, vĩ đại và đầy quyền lực, trong cuốn The Spake Zarathustra - Zarathustra Ðã Nói Như Thế (1883-92). Ý tưởng ấy bị Ðức Quốc xã ứng biến thành chủ nghĩa chủng tộc siêu nhân Aryan. Từ năm 1889, ông bị điên.

Sigmund Freud (1856-1939), nhà tâm thần học và tiên phong về phân tâm học người Ðức. Ông đặt lý thuyết của mình trên những sinh hoạt của tâm trí vô thức, những động lực, dục vọng và xung khắc tác động tới động thái của con người. Ông làm giáo sư Ðại học Vienna từ năm 1902, thành lập Hiệp hội Phân tâm học Vienna năm 1910. Năm 1938, ông rời Áo vì sự chiếm đóng của Ðức quốc xã, sang Luân Ðôn và qua đời vào năm sau. Tác phẩm của ông gồm Studies in Hysteria – Nghiên cứu chứng cuồng (1895), The Interpretion of Dreams – Giải mộng (1899), Totem and Taboo – Vật tổ và cấm kỵ (1913), Moses and Monotheism – Môsen và độc thần giáo (1939)...
 


Thiền Là Gì ?
D.T. Suzuki

Phải chăng Thiền là một hệ thống triết học có tính trí tuệ cao vời và siêu hình sâu xa như hầu hết các lời giảng của Phật giáo?

Tôi từng phát biểu rằng chúng ta tìm thấy trong Thiền sự kết tinh toàn bộ triết học phương đông, nhưng như thế không có nghĩa Thiền là một triết học hiểu theo tính chất ứng dụng thông thường của từ ngữ ấy. Thiền dứt khoát không là một hệ thống được xây dựng trên nền tảng luận lý và phân tích. Có lẽ nó đối lập hoàn toàn với luận lý, cái mà tôi có ý nói là lối suy nghĩ nhị nguyên. Có thể trong Thiền có yếu tố tri thức vì Thiền là toàn bộ tâm trí, và trong Thiền chúng ta tìm thấy nhiều điều lớn lao; nhưng tâm trí ấy không là cái có tính phức hợp, cái bị phân chia thành quá nhiều ngọn ngành, cái chẳng để lại chút gì sau khi hoàn tất việc xem xét cặn kẽ. 

Thiền chẳng có gì để dạy bảo chúng ta theo lối phân tích có tính trí tuệ; nó cũng chẳng có chuỗi giáo thuyết áp đặt nào buộc người đi theo phải chấp nhận. Trong tinh thần tôn trọng ấy, Thiền có tính hỗn độn, nếu bạn thích nói như thế. Có thể vì mục đích cá nhân và lợi ích của riêng mình, người đi theo Thiền có một chuỗi giáo thuyết, nhưng thật ra, chuỗi giáo thuyết ấy không phải do tự Thiền mà có. Vì vậy, trong Thiền không có thánh thư, lý thuyết giáo điều hoặc bất cứ phương pháp biểu hiện nào để qua đó có thể tiếp cận ý nghĩa của Thiền. 

Vậy nếu có ai hỏi tôi rằng Thiền giảng dạy gì, tôi sẽ trả lời là Thiền chẳng giảng dạy gì cả. Bất cứ lời giảng nào trong Thiền cũng phát xuất từ tâm trí của chính ta. Chúng ta tự dạy bảo mình. Thiền chỉ là vạch đường chỉ lối. Nếu sự vạch đường chỉ lối ấy không phải là lời giảng thì chắc chắn rằng trong Thiền không có điều gì được cố ý sắp xếp như là giáo thuyết chủ yếu của nó hoặc triết lý căn bản của nó.

Thiền tự nhận là Phật giáo, nhưng tất cả những lời giảng của Phật giáo, như đã được đề xuất trong kinh điển, bị Thiền coi là những mảnh giấy thừa thải, sử dụng chúng cốt chỉ để tẩy uế tri thức, và thế thôi. Tuy thế, đừng có ấn tượng rằng Thiền là hư vô chủ nghĩa. Toàn bộ chủ nghĩa hư vô chỉ mang tính tự diệt, không đi tới đâu cả. Chủ nghĩa phủ định thì nghe có vẻ như một phương pháp, nhưng đúng ra, nó là một sự khẳng định. Khi người ta nói Thiền không có triết lý, rằng Thiền từ khước toàn bộ thẩm quyền giáo lý, rằng Thiền loại bỏ toàn bộ cái gọi là kinh sách thiêng liêng, xem chúng là đồ vô giá trị, thì chúng ta đừng quên rằng Thiền vẫn duy trì trong chính hành động phủ định ấy một cái gì đó có tính hoàn toàn tích cực và khẳng định vĩnh viễn. Ðiều ấy sẽ càng lúc càng rõ ràng hơn khi chúng ta đi sâu vào.

Thiền phải chăng là một tôn giáo? Thiền không phải là một tôn giáo hiểu theo lối thông thường của từ ngữ đó, vì Thiền không có một Thượng để để thờ phượng, không có nghi thức lễ lạc để tuân giữ, không có nơi cư trú mai hậu dành cho kẻ qua đời, và sau hết, Thiền không có linh hồn, cái vốn được thiên hạ chăm lo ân phúc và quan tâm mãnh liệt tới vấn đề bất tử của nó. Thiền thoát ra khỏi tất cả những chướng ngại có tính giáo điều và "tôn giáo".

Khi tôi nói trong Thiền không có Thượng đế thì người tín đồ ngoan đạo có thể bị sốc, nhưng nói như vậy không có nghĩa Thiền phủ định sự hiện hữu của Thượng đế; Thiền không băn khoăn tới việc phủ định lẫn việc khẳng định. Khi một cái gì đó bị phủ định thì chính trong hành động phủ định ấy có liên can tới một cái gì đó bất phủ định. Cũng có thể phát biểu giống như thế về sự khẳng định. Ðó là điều không thể tránh được trong luận lý. Thiền muốn vượt lên trên luận lý. Thiền muốn tìm thấy một khẳng định ở cấp cao hơn trong đó không có phản đề. Do đó, trong Thiền, Thượng đế không bị phủ nhận cũng không được nhấn mạnh. Vấn đề chỉ là, trong Thiền, không có một Thượng đế được quan niệm theo tâm trí Do thái giáo và Kitô giáo. Và cũng vì lý do đó, Thiền không phải là một triết lý và không phải là một tôn giáo.

Còn về tất cả những ảnh tượng muôn hình muôn vẻ của các Ðức Phật, các Bồ tát, các La hán và những hữu thể khác mà người ta tình cờ bắt gặp trong các Thiền viện, thì cũng giống như vô số tác phẩm bằng gỗ đá hoặc bằng kim loại, chúng tựa những cây hoa trà, cây đỗ quyên, những đèn lồng bằng đá trong vườn nhà tôi. Thiền hẳn nói là: bạn cứ tôn sùng cây hoa trà lúc này trỗ đầy lộc non và cứ thờ phượng nó nếu bạn thích. Các tôn giáo cũng làm như thế bằng việc cúi đầu, quì gối trước các thần linh Phật giáo muôn hình muôn vẻ, hoặc bằng việc rảy nước thánh hoặc bằng việc dự Bữa Tiệc Ly của Chúa [tượng trưng bằng Thánh lễ Misa hàng ngày trong nhà thờ, thêm của người dịch]. Tất cả những cử chỉ ngoan đạo được hầu hết những người-gọi-là-mộ-đạo đánh giá là đáng khen và hợp đạo thánh thì theo con mắt của Thiền, chúng đều có tính chất nhân tạo. Thiền dũng mãnh tuyên bố rằng: "Các hành giả thanh khiết không lên Niết bàn và những tu sĩ phạm giới không sa địa ngục". Ðối với những tâm trí bình thường thì câu nói ấy mâu thuẫn với luật tắc thông thường của đời sống đạo đức, nhưng nằm trong câu nói đó là chân lý và sự sống của Thiền. Thiền là tâm linh của một con người. Thiền tin vào sự thuần khiết và thiện hảo tại nội tâm của mỗi người. Vì thế, chồng chất thêm bất cứ cái gì hoặc mãnh liệt tước bỏ đi bất cứ cái gì thì cũng đều làm thương tổn sự lành mạnh của tâm linh. Thiền, do đó, rõ ràng là chống lại toàn bộ sự quá câu nệ qui ước tôn giáo.

Chú thích:

Daisetz Taitaro Suzuki (1870-1966). Thiền sư Nhật. Ông bắt đầu tập Thiền năm 22 tuổi. Xuất thân từ một gia đình nghèo, ông bỏ dỡ đại học, sau đó, ông nghiên cứu ở Hoa Kỳ 13 năm, dịch Asvaghosa (Mã Minh), một thi sĩ Ấn, nhà hùng biện và và triết gia Ðại Thừa và theo truyền thuyết là tổ thứ 17 của Phật giáo Thiền tông, cuốn Awakening of Faith in Mahayana - Ðại Thừa Khởi Tín Luận (1900) và viết cuốn Outline of Mahayana Buddhism - Ðại Cương Phật Giáo Ðại Thừa (1907). Năm 1922, Suzuki trở về Nhật, dạy học và viết sách. Ông là giáo sư Phật học Ðại học Otani, Kyoto và là một học giả chủ yếu về Phật giáo Ðại Thừa và nói chung về Tôn giáo của Nhật. Ông viết nhiều tác phẩm nổi tiếng về Phật học, đặc biệt Thiền học, giới thiệu Thiền cho cả phương đông lẫn phương tây bằng lối nói đại chúng. Một số tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt như Thiền Luận, Cốt Tủy Của Ðạo Phật, Huyền Học Phật Giáo Và Thiên Chúa...
 


Tôn Giáo Là Gì ?
Alan Watts

Tinh thần mộ đạo của người Kitô hữu đã tạo ra một hình ảnh quái đản dùng làm đối tượng cho lòng sùng bái của mình: Ðức Giêsu Kitô bị đóng đinh trên thập giá. Hình ảnh một con người đạo đức rậm râu với tia nhìn nghiêm nghị, nhân từ và đau đớn mơ hồ trong mắt. Rồi bỗng có người cầm đèn lồng đến gõ lên cánh cửa tâm hồn ta và nói: "Này các bạn, hãy tới với nhau nào. Ầm ĩ như thế đủ rồi! Ðã tới lúc chúng ta cùng nhau nói chuyện nghiêm chỉnh!"õ Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Lạy Chúa! Ôi Giêsu... Người Phật tử Thiền tông nói:"Bạn hãy súc miệng mỗi lần niệm Phật!" Cuộc sống mới của Kitô giáo sẽ bắt đầu ngay lúc có người nào đó đứng lên giữa nhà thờ và nói: "ûBạn hãy súc miệng mỗi lần kêu danh Ðức Giêsu!"

Về mặt tâm linh, chúng ta đang bị tê liệt vì tôn sùng quá đáng Ðức Giêsu. Ngay cả người vô thần cũng xem ngài là một đấng tối hảo, người gương mẫu, người có uy tín đạo đức, và không ai có thể phản bác điều đó. Dù ý kiến của riêng mình có ra sao đi nữa thì chúng ta đều cũng phải bóp méo vo tròn lời của Ðức Giêsu cho phù hợp với hình ảnh đó. Khốn khổ thay cho Ðức Giêsu! Nếu ngài biết người ta sẽ phóng chiếu ngài thành kẻ có quyền phép vĩ đại đến thế thì hẳn ngài đã chẳng bao giờ nói lấy một tiếng! Hình ảnh có tính văn học của ngài, qua nhiều thế kỷ thần phục, đã biến thành một thần tượng và vượt xa bất cứ tượng thần tạc bằng gỗ đá nào, tới độ ngày nay, "bất cứ cử chỉ tôn kính chân thật và hồn nhiên nào cũng là phá hoại hình ảnh đó." 

Chính ngài đã phán: "Ta ra đi thì có lợi cho các ngươi. Thật vậy, nếu ta không ra đi thì Ðấng Bảo trợ [Thần Khí Thánh Linh, thêm của người dịch] sẽ không đến với các ngươi." (Gioan 16:7). Hoặc như thiên thần nói với các môn đệ đến tìm xác Ðức Giêsu trong nhà mồ: "Sao các ngươi lại tìm người sống ở giữa kẻ chết? Ngài không còn ở đây nữa. Ngài đã sống lại và ra đi trước các ngươi..."(Luca 24:5-6). Nhưng lòng mộ đạo của người Kitô hữu đã không để cho ngài đi luôn, nó tiếp tục tìm kiếm Ðức Kitô sống động ở những chữ chết trong bản tường trình có tính lịch sử. Như ngài đã nói với người Do thái: "Các ngươi lùng tìm sách thánh vì các ngươi tưởng rằng trong đó các ngươi có được cuộc sống bất diệt..."

Hình ảnh Ðức Giêu bị đóng đinh trên thập giá khiến cho cuộc sống bất diệt [hiểu theo kiểu ấy] phát xuất từ hành động qui thuận Thượng đế như một đối tượng để ta sở hữu, biết tới và nắm giữ cho sự bền vững của bản thân ta, "vì ngài cứu chuộc nên ta sẽ không mất linh hồn." Do đó, bám víu vào Ðức Giêsu là để thờ phượng một Ðức Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, một ngẫu tượng, thay vì một Thượng đế sống động.

*
* *
Khi Thượng đế đã chết thì con người, kẻ luôn luôn được định nghĩa như một tạo vật khác với Thượng đế, bắt đầu cảm thấy mình là một thực tại khác — một thực tại bất qui luật và đầy cảm tính trong một hệ thống người-ăn-thịt-người, một hệ thống do Quỉ dữ bày mưu tính kế, nếu có Quỉ dữ. Lúc ấy, loài người vì xung đột quá đổi với môi trường sống nên phải hoặc thúc ép thô bạo cho môi trường tuân phục mình hoặc hủy diệt môi trường. Hai chọn lựa ấy chỉ đưa tới một hậu quả.

Nhưng một tôn giáo tối thượng thì vượt quá bên kia thần học. Tôn giáo đó hướng tới tâm điểm; nó xem xét và thăm dò chốn nội tâm sâu thẳm nhất của bản thân con người, vì chính tại nơi ấy chúng ta ở trong trạng thái giao tiếp mật thiết nhất, hoặc đúng hơn, đồng nhất với chính cuộc sống. Sự tùy thuộc vào những biểu tượng hoặc ý niệm thần học bị thay thế bằng sự tiếp xúc trực tiếp và phi khái niệm với cấp độ sống của chính bản thân ta, và cùng lúc ấy, với cấp độ sống của hết thảy đồng loại. Vì vào lúc tôi là tôi nhất thì cũng chính là lúc tôi vượt quá bản thân tôi nhất. Tại cội rễ, tôi làm một với hết thảy ngọn ngành. Tuy thế, cấp độ sống ấy không là cái gì đó có thể nắm bắt hoặc xếp loại, kiểm tra hoặc lập thành như một đối tượng của kiến thức — không phải do bởi nó là cái cấm kỵ hoặc không được xâm phạm vì lý do tôn giáo, mà do bởi nó chính là điểm mà từ đó tôi toả ra loại ánh sáng không ở trước mặt mà ở trong mắt...

Lúc ấy, có một nền tảng mang tính kết cấu hơn và khách quan hơn cho bước nhảy vọt của đức tin mà trong bước nhảy đó, con người có thể dám nghĩ rằng mình không là khách lạ trong vũ trụ, cũng không là ánh chớp nhận thức cô độc và bi thảm trong bóng tối mịt mùng và vô tận. Vì dưới ánh sáng của những gì chúng ta hiện biết theo lối nói vật lý, thì thật vô lý khi dám đánh cuộc rằng tại chốn sâu thẳm tâm điểm của "bản thân tôi" là "Cái đó", là "Nó" — như trong câu "vì nó đã hiện hữu từ khởi thủy, nên nó hiện hữu lúc này và sẽ hiện hữu mãi mãi, thế gian không bao giờ tận."

Nếu đây là nỗi hy vọng hoặc niềm tin sôi sục thì Krishnamurti có lý khi nói rằng nó phải được thách đố và được kiểm tra bằng câu hỏi: "Tại sao bạn muốn tin điều đó? Có phải vì bạn sợ rằng mình đang chết, rằng mình đang đi tới một chung cuộc? Có phải sự đồng nhất hoá với Bản ngã vũ trụ này là một phương thế tuyệt vọng của bản ngã con người để con người tiếp tục cuộc chơi của nó?" Thật ra, theo tôi, sự Ðồng Nhất Hoá Tối Thượng ấy là một niềm tin mà tôi bám víu vào và tôi đang hoàn toàn tự mâu thuẫn. Không chỉ vô nghĩa trong hành động bám víu vào cái tôi đang là; ngay hành động bám víu ấy còn hàm ý rằng tôi không thật sự biết tôi là Nó! Một niềm tin như thế thì chỉ là khoác áo giả trang lên lòng hoài nghi của mình. 

Ý nghĩa sau cùng của việc biết tới Thượng đế bằng vô tri kiến, của sự buông bỏ các thần tượng có tính cảm tính lẫn tính khái niệm, của thần học tối hậu ấy là: niềm tin tối hậu thì không ở trong hoặc không ở trên bất cứ cái gì. Nó là hành động hoàn toàn buông xả. Nó không những chỉ ở bên kia thần học mà còn ở bên kia chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa hư vô. Không thể đạt tới trạng thái buông xả đó, không thể sở đắc được nó hoặc triển khai nó qua kiên trì hoặc luyện tập, ngoại trừ tới mức độ mà những nỗ lực ấy chứng minh tính chất bất khả của những hành động nhằm sở đắc nó. Trạng thái buông xả chỉ đến qua sự tuyệt vọng. Khi bạn biết rằng nó ở bên kia bạn — bên kia những năng lực để hành động cũng như bên kia những năng lực để buông lơi của bạn. Khi bạn buông bỏ mọi mánh khoé và mưu chước sau cùng để có nó, kể cả trong "buông bỏ" ấy gồm cái gì đó mà ta có thể thể hiện, thí dụ, hứa hẹn một thời điểm mười giờ tối nay. Tới độ bạn không thể thể hiện nó bằng phương tiện nào cả — thế thôi. Ðó là sự tự buông xã lớn lao, cái sinh ra các sao trời.

Chú thích:

Alan Watts (1915-1973). Triết gia, thần học gia và là nhà nghiên cứu tôn giáo đối chiếu người Mỹ, có ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào văn hoá phản kháng thập niên 1960. Với các tác phẩm nổi tiếng như The Way of Zen - Ðường Thiền (1857) và Psychotherapy East and West - Ðông Tây Tâm Lý Trị Liệu (1961),.. ông biện luận rằng người phương Tây đang trong tình trạng hoang mang, tìm kiếm sự khuây khoả để thoả mãn bản ngã của mình. Giải pháp là thay đổi ý thức, nhận ra mọi sự trong quan hệ hỗ tương của chúng như những thành tố thiết yếu của một tiến trình duy nhất.

Jiddu Krishnamurti (1895-1985), đạo sư, sinh tại Ấn Ðộ sau đó sang Anh rồi định cư và từ trần tại Ojai, California. Từ nhỏ, ông được Hội Thông Thiên Học, từng có trụ sở ở Phú Nhuận Sài Gòn, giáo dưỡng và lập cho ông một "giáo hội" để chuẩn bị ngày ông làm giáo chủ thế giới với tư cách là một hóa thân của Bồ tát Di Lặc. Nhưng sắp tới ngày ấy, ông tuyên bố giải tán giáo hội, từø bỏ mọi tuyên xưng thánh tính và ly khai Hội TTH. Từ đó ông đi rao giảng khắp thế giới với chủ trương con người có thể thoát khỏi khổ não và sống hạnh phúc ngay giữa trần gian bằng cách giải quyết vấn đề đời sống trong hiện tại, cũng là giải quyết cả quá khứ bị điều kiện hoá và tương lai... 
Một cách khái quát, lời giảng của ông tản mạn trong những điểm chủ yếu: 
(1) Chủ thể hành động cũng chính là hành động; người ra động tác cũng chính là động tác; người suy nghĩ cũng chính là ý nghĩ.
(2) Chú ý vào "cái đang là" tức là giải quyết trọn vẹn những cái trong cả quá khứ lẫn tương lai.
(3) Trên con đường sống và tu tập, bước đầu tiên cũng chính là bước sau cùng.
(4) Không bao giờ để cho mình sa vào cuộc tìm kiếm và truy lùng vô vọng sự vị vọng, sự an toàn, các loại tôn sư, đại sư phụ và các hệ thống lý thuyết cố định. Lúc nào cũng tư nhủ rằng những so sánh và nhãn hiệu, tước hiệu đưa đến thành kiến và bất hạnh, sự qui phục đưa tới sự bắt chước tầm thường và rằng ta không thể tự chủ, tự động tư duy và hành động khi ta còn có mặc cảm khuyết điểm và còn sợ hãi. Ta phải mạnh dạn cất bước đi vào những vùng đất chưa có dấu chân của người khác.

Ông từ trần đã hơn 20 năm nhưng hiện nay, tư tưởng của ông vẫn ảnh hưởng sâu và mạnh lên giới tinh hoa của thế giới như các trí thức, văn nghệ sĩ và các vận động viên cũng như những người đấu tranh cho môi sinh.

Người Tôn Giáo
Là Người Thế Nào?
Erich Fromm

Tôi từng phát biểu rằng con người bị chính thực tế sự hiện hữu của nó đặt vấn đề với nó, và rằng vấn nạn đó phát xuất bởi sự mâu thuẫn bên trong bản thân con người — một đằng sống trong tự nhiên, đằng khác, trong cùng lúc ấy, vượt quá tự nhiên vì thực tế mình là cuộc sống, một cuộc sống tự nhận biết chính nó. 

Người nào lắng nghe vấn nạn đặt ra cho mình ấy và người nào xem vấn nạn ấy là "vấn đề quan tâm tối hậu", và trả lời nó bằng toàn bộ con người của mình chứ không phải chỉ bằng ý nghĩ, thì đó là "người tôn giáo"; và tất cả những hệ thống nào nỗ lực cung hiến, giảng dạy và giao truyền lời giải đáp cho vấn nạn đó thì đều là "tôn giáo". Ngược lại, bất cứ người nào — và bất cứ nền văn hoá nào — mà cố sức làm ngơ vấn nạn có tính hiện sinh đó thì đều là phi tôn giáo. 

Không có thí dụ nào điễn hình về việc con người làm ngơ vấn nạn sinh tồn đó cho bằng lấy ngay chính bản thân chúng ta, những người đang sống trong thế kỷ 20 này. Chúng ta ra sức né tránh vấn nạn đó bằng cách quan tâm tới tài sản, danh giá, quyền hành, sản xuất, vui chơi, và một cách tối hậu, bằng việc ra sức quên rằng chúng ta — rằng tôi — hiện hữu. 

Không quan trọng gì việc siêng năng đi nhà thờ, đình chùa đền miếu hoặc thường xuyên nghĩ tới Thượng đế hoặc xác tín vào các ý tưởng tôn giáo, nếu người đó, toàn bộ con người của hắn, tai lơ mắt điếc trước vấn nạn về sự hiện hữu của chính mình, nếu hắn không có lời giải đáp cho vấn nạn ấy thì hắn vẫn giẫm chân tại chỗ, sống và chết như một trong một triệu đồ vật mà con người sản xuất ra. Người đó chỉ nghĩ tới Thượng đế thay vì nếm trải việc sống với Thượng đế.
 


Nghệ Sĩ Cuộc Ðời
D.T. Suzuki

Không thể kỳ vọng tất cả chúng ta đều là nhà khoa học, nhưng vì cùng bị cấu thành quá đổi bởi tự nhiên nên chúng ta đều có thể là nghệ sĩ, đúng ra, không phải nghệ sĩ trong các ngành chuyên biệt, thí dụ họa sĩ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, thi sĩ, vv... mà là nghệ sĩ của cuộc đời. Chức nghiệp ấy, "nghệ sĩ cuộc đời"õ, nghe có vẻ mới lạ và hoàn toàn kỳ quặc, nhưng thực tế, mọi người đều bẩm sinh là nghệ sĩ cuộc đời và vì không biết tới điều đó nên hầu hết chúng ta không làm được điều đó; hậu quả là chúng ta làm cho đời mình trở nên hỗn độn và rồi thắc mắc rằng: - "Ý nghĩa cuộc đời là gì?"õ - "Có phải chúng ta đang không đối mặt với sự hư không trống rỗng sao?" – "Sau khi sống bảy mươi tám năm hoặc cả đến chín mươi năm, chúng ta sẽ đi đâu? Nào ai biết", v.v. và v.v... 

Tôi được biết rằng chính vì lý do ấy nên người thời nay, nam có nữ có, hầu hết đều mắc chứng rối loạn thần kinh. Nhưng người theo Thiền thì có thể nói cho họ biết rằng họ đều quên mình bẩm sinh là nghệ sĩ, nghệ sĩ sáng tạo cuộc sống. Ngay lúc nhận ra thực tế và chân lý đó, họ sẽ hoàn toàn được chữa khỏi chứng rối loạn thần kinh hoặc rối loạn tâm lý hoặc bất cứ từ ngữ nào người ta dùng để gọi sự xáo trộn ấy.

Vậy ý nghĩa của sự làm nghệ sĩ cuộc đời là gì?

Theo như tôi biết cho tới nay, nghệ sĩ của bất cứ ngành nào cũng phải sử dụng công cụ này hoặc công cụ nọ để thể hiện mình, để phô diễn tính chất sáng tạo của mình bằng hình thức này hoặc hình thức khác. Nhà điêu khắc phải có đá hoặc gỗ hoặc đất sét, và đục chàng hoặc đồ nghề nào khác để chạm trổ ý tưởng của mình lên vật liệu. Nhưng nghệ sĩ cuộc đời thì không cần bất cứ công cụ nào bên ngoài bản thân. Toàn bộ vật liệu, toàn bộ dụng cụ, toàn bộ kỹ năng thông thường phải có, đều nằm sẵn trong con người từ lúc sinh ra, thậm chí có thể có trước khi cha mẹ sinh mình ra. Bạn có thể kêu lên rằng nói như thế là bất thường, kỳ quái. Nhưng khi bạn bỏ chút thì giờ suy nghĩ về điều ấy thì tôi chắc chắn rằng bạn sẽ lập tức nhận ra điều tôi có ý nói. Nếu bạn không nhận ra, tôi sẽ nói thẳng và nói rõ ràng hơn với bạn. 

Nó thế này: thể xác, cái hình hài vật lý mà chúng đều có, là vật liệu, tương ứng với tấm vải căng để vẽ của họa sĩ, gỗ đá hoặc đất của nhà điêu khắc, cây vĩ cầm hoặc ống tiêu của nhạc sĩ, dây thanh âm của ca sĩ. Và tất cả những gì liên kết với thể xác đó, thí dụ như bàn tay, bàn chân, thân mình, đầu, phủ tạng, thần kinh, tế bào, ý nghĩ, cảm xúc, giác quan — mọi cái đó thật ra đều hoạt động để làm thành con người toàn bộ — là tất cả vật liệu mà trên nó, đồng thời là khí cụ mà với nó, con người rèn luyện thiên tư sáng tạo của mình thành đức hạnh, thành thái độ, thành mọi hình thái hoạt động, và quả thật, thành chính đời sống. Như thế người ấy, từng cử chỉ của người ấy, biểu lộ tính chất căn nguyên, sự sáng tạo, nhân vị sống động của mình. Trong biểu lộ đó không có sư rập khuôn theo qui ước cũng như sự tuân thủ hoặc động lực kềm hãm. Người ấy chuyển động khi cảm thấy thú vị. Ðộng thái của người ấy như gió thổi khi gió thích thổi. Người ấy không có "cái tôi"õ bị đóng gói trong cuộc sống manh mún, giới hạn, trói buộc và vị kỷ. Người ấy thoát khỏi nhà ngục đó. Một đại Thiền sư đời Ðường có nói: "Với kẻ làm chủ bản thân thì nơi nào thiên hạ cũng thấy hắn hành động trung thực với bản thân."õ Tôi gọi người ấy là nghệ sĩ cuộc đời.

Tự Ngã của người ấy chạm được tiềm thức, cội nguồn của những khả năng vô tận. Cái người ấy có là "tâm-không". Thánh Augustine nói, "Hãy yêu Thượng đế và cứ làm theo ý ngươi." Câu ấy tương tự bài thơ của Vô Nan, một thiền sư thế kỷ mười bảy:

Trong khi sống
Hãy là người chết
Chết tận cùng;
Và hãy hành động như bạn muốn
Tất cả đều tốt.

Yêu Thượng đế là sống không bản ngã, sống tâm-không, trở thành "người chết"õ, giải thoát khỏi những động lực kềm toả của ý thức. Lời chào nhau buổi sáng của người ấy không có thành tố vụ lợi trao đổi giữa người và người. Tai nghe thì miệng đáp. Cảm thấy đói thì ăn. Về ngoại diện, người ấy là con người tự nhiên, xuất phát thẳng từ tự nhiên, không có những chuỗi ý tưởng phức tạp của người văn minh hiện đại. Nhưng cuộc sống nội tâm của người ấy phong phú biết bao! Vì cuộc sống ấy hiệp thông với tiềm thức bao la.

Chú thích:

Augustine (354-430), còn được gọi là Augustine thành Hippo, vị giáo phụ vĩ đại nhất mọi thời của Kitô giáo. Ông gốc người Tunisia, sinh trong một gia đình ngoài Kitô giáo, trở thành Kitô hữu năm 386 nhờ người mẹ ngoan đạo rồi được truyền chức giám mục giáo phận Hippo năm 396. Ông thành lập một cộng đoàn đan sĩ, một linh mục đoàn, viết nhiều sách có giá trị quyết định về thần học Kitô giáo. Ba tác phẩm quan trọng nhất của ông là Confessions – Tự thú ;The City of God - Thành Ðô của Thượng Ðế; và On the Trinity - Bàn Về Một Chúa Ba Ngôi, v.v...
Vô Nan (1602-1676), đại thiền sư người Nhật, thuộc phái Lâm Tế, trụ trì Thiền đền Dharma.
 


Ngón Tay Và Quả Ðấm
Chuyện thiền

Nhà sư lang thang nào cũng có thể đến tá túc trong Thiền viện ấy với điều kiện thắng cuộc tranh luận Phật pháp với một nhà sư đang sống ở đó. Nếu bại, phải đi qua nơi khác.

Có hai sư huynh đệ cùng sống trong một Thiền viện tại miền Bắc nước Nhật. Sư huynh là người học rộng còn sư đệ là kẻ đần độn và chỉ có một mắt.

Ngày nọ, có một nhà sư lạ lang thang đến xin trọ. Ông đặc biệt thách đố cả hai anh em về giáo pháp huyền vi. Hôm đó, sư huynh đuối sức vì suốt ngày học nhiều quá. Ông bảo sư đệ thay mình ra đối đáp. Sư huynh dặn dò kỹ lưỡng:

- Ðệ hãy ra gặp và yêu cầu ông ấy tranh luận mà đừng nói.
Vậy, sư đệ cùng nhà sư lạ cùng an tọa trước chánh điện.
Chỉ lát sau, nhà sư lang thang đứng dậy, tới gặp người sư huynh và nói:
- Sư đệ của huynh là một đồng đạo tuyệt vời. Anh ấy đánh bại tôi rồi.
Sư huynh trả lời:
- Xin huynh kể lại cuộc đối thoại cho tôi nghe. 
Nhà sư lang thang vừa kể vừa giải thích: 
- Vâng. Trước tiên tôi đưa một ngón tay lên, tiêu biểu cho Ðức Phật, đấng giác ngộ. Anh ấy đưa hai ngón tay lên, có ý nói Ðức Phật và lời giảng của Ngài. Tôi đưa lên ba ngón, tiêu biểu cho Ðức Phật, lời giảng của Ngài và những người theo Ngài đang sống đời hoà điệu. Lúc đó, anh ấy đưa nắm tay vô mặt tôi, ý nói cả ba đều phát xuất từ một thức ngộ độc nhất. Vậy là anh ấy đã thắng, tôi không có quyền ở lại đây. 
Nhà sư lang thang vừa bỏ đi thì sư đệ chạy tới hỏi sư huynh:
- Hắn đâu rồi?
- Huynh biết đệ đã thắng cuộc tranh luận.
- Chẳng thắng gì cả. Ðệ sắp đập hắn một trận.
Sư huynh hỏi: 
- Ðệ nói cho huynh biết chủ đề của cuộc tranh luận vừa qua là gì? 
Có gì đâu. Vừa thấy mặt đệ là hắn giơ một ngón tay lên, nhục mạ đệ, ám chỉ rằng đệ chỉ có một con mắt. Vì hắn là người lạ nên đệ nghĩ mình phải lịch sự, đệ đưa lên hai ngón, chào và khen hắn có đủ hai con mắt. Vậy mà tên khốn kiếp vô lễ đó giơ lên ba ngón, ý nói hắn và đệ cộng lại cũng chỉ có ba con mắt. Ðệ nổi khùng vung tay lên tính đấm vô mặt hắn nhưng hắn đã bỏ chạy. Vậy là hết tranh luận.
 



THƯ MỤC TƯ LIỆU
Liệt kê và Cảm tạ


Affirmations for Artists, Eric Maisel, G.P. Putnam’ Sons, Chicago, 1996.
Bích Nham Lục, bản dịch của Thích Thanh Từ, TP Hồ Chí Minh: Tổng hội Phật giáo, 2005.
Phật Học Từ Ðiển, Ðoàn Trung Còn, Paris: Chùa Khánh Anh, (không ghi năm xb)
Pháp Giáo Nhà Phật, Ðoàn Trung Còn, Sàigòn: NXB Phật Học Tòng-Thơ, (không ghi năm xb)
Questions to a Zen Master, Taisen Deshimaru, New York: Dutton, 1985.
Sáu Cửa Vào Ðộng Thiếu Thất, Bô Ðề Ðạt Ma, Trúc Thiên dịch, TP Hồ Chí Minh: Thành hội Phật giáo, 1997.
The Faber Book of Aphorisms, W.H. Auden & L. Kronenberger, London: Faber and Faber Ltd, 1962.
The Gospel According to Zen, Robert Sohl & Audrey Carr, Toronto: Mentor Book, 1979.
The Little Zen Companion, David Schiller, New York: Workman Publishing, 1994.
The Tao of Leadership, John Heider, Toronto: Bantambooks, 1988
The World of Zen, Nancy Wilson Ross, New York: Vintage Books, 1960.
Thiền Học Việt Nam, Nguyễn Ðăng Thục, Huế: NXB Thuận Hóa, 1997.
Thiền Sư Việt Nam, Thích Thanh Từ, TP Hồ Chí Minh: Thành hội Phật giáo, 1995.
Từ điển Bách Khoa Nho-Phật-Ðạo, Lao Tử & Thịnh Lệ (Chủ biên), Hà Nội: NXB Văn Học, 2001.
Từ Ðiển Phật Học, Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999.
Vô Môn Quan, bản dịch của Trần Tuấn Mẫn, TP Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1995.
Zen and the Bible, J.K. Kadowaki SJ, London: Penguin Group, 1980.
Zen Catholicism, Dom Aelred Graham, New York: The Crossroad Publishing Com., 1994.
Zen in the Art of Archery, Eugen Herrigel, New York: Panthen, 1958.
Zen To Go, Jon Winokur, Toronto: Penguin Book Canada Ltd, 1989. 

11-05-2007 05:12:24

c

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

Dấu hiệu của ung thư vòm họng di hài một nhà sư trong tư thế tọa tặng 9 loai nhan duyen phat tu tre nhan giai thuong vi cong dong tháng ngày yên ả phi sống đơn giản phiếm vô thường giữa lòng thực tại dan sanh Thá hạnh phúc toàn diện thực hành tụng niệmtrong phật giáo Tức Leo vách núi và thái cực quyền giúp tu tap the nao de tranh tau hoa nhap ma chiêm bao và ý nghĩa liên quan phiền điều phục tâm ý pho phong Cây sen cạn làm thuốc phuong phap thuyet giang va ky nang cua mot vi thien phat giao Kháng sinh có thể làm tăng nguy cơ tiểu quê ý nghĩa của việc cúng nước trên bàn quẠLợi quán chết về sự sống chết Tiếng nói từ quá khứ Đạt Ma mất dép Hồi ức một quận chúa Kỳ 4 Cuộc hôn quán bất tịnh thiền sư thích nhất hạnh được liên Khoảng lặng Gương sáng cho đời sau ngu 10 nghiệp lành mang lại phước đức phap tieu nghiep vang sinh va doi nghiep vang sinh Gi廙 va Chạy nên doc dao ngoi chua trieu chai truyê n ngă n 7 bước đến miền cực lÃÆ Cuộc đời sự nghiệp đạo hạnh là Người Sài Gòn nô nức đi ăn chay là m