GIỚI THIỆU Tuvien.com

Tuvien.com – Ngôi Chùa Online & Kho Tàng Phật Pháp Vô Tận

Trong thời đại công nghệ số, việc tiếp cận và thực hành Phật pháp đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết nhờ các nền tảng trực tuyến. Trong số đó, Tuvien.com nổi lên như một địa chỉ đáng tin cậy, một thư viện khổng lồ và một "ngôi chùa online" đích thực dành cho mọi Phật tử và những người yêu mến đạo Phật.

Tuvien.com không chỉ là một website, đó là một kho tàng tri thức:

Tuvien.com chứa đựng hàng ngàn bài viết chất lượng về Phật pháp, được chọn lọc kỹ càng từ nhiều nguồn đáng tin cậy. Dù bạn là người mới bắt đầu hay đã thâm nhập kinh điển lâu năm, bạn đều có thể tìm thấy những kiến thức phù hợp:

  • Tủ Sách Kinh Điển Đa Dạng: Trang web quy tụ hàng chục bộ kinh từ các hệ phái khác nhau, bao gồm:
    • Kinh Điển: Cung cấp các bản kinh quan trọng từ Đại thừa, Nguyên thủy và các hệ phái khác.
    • Giới Luật, Luận Giải: Giúp người học hiểu sâu hơn về nền tảng đạo đức và triết lý Phật giáo.
    • Thiền Nguyên Thủy, Tổ Sư Thiền, Mật Tông: Các tài liệu chuyên sâu về các pháp môn tu tập.
    • Triết Học Phật Giáo: Phân tích các khía cạnh tư tưởng sâu sắc của đạo Phật.
  • Audio Thuyết Pháp Phong Phú: Đây là một trong những điểm mạnh của Tuvien.com, nơi bạn có thể nghe pháp bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Trang web lưu trữ các bài thuyết pháp của các bậc Hòa thượng, cư sĩ đạo cao đức trọng như:
    • Thầy Thích Thông Lai
    • Pháp Sư Tịnh Không, Pháp Sư Ngộ Thông
    • Cư sĩ - Diệu Âm (Australia)
    • Cùng nhiều bài thuyết pháp khác trong mục Các bài Thuyết Pháp.

Các mục Audio chuyên đề sâu sắc:

Để thuận tiện cho người nghe, Tuvien.com đã sắp xếp các nội dung Audio thành các chuyên mục chi tiết:

  • Audio Kinh điển đại thừa, Audio Đại tạng kinh (Nikaya), Audio Luận tạng, Audio Luật tạng: Giúp người nghe tiếp cận kinh điển một cách hệ thống.
  • Audio Thiền học, Audio Tịnh độ, Audio Triết học phật giáo: Đi sâu vào các pháp môn và học thuyết chuyên biệt.
  • Audio Truyện Phật Giáo, Âm nhạc phật giáo: Cung cấp nội dung giải trí lành mạnh, giàu tính giáo dục.

Phật Pháp Ứng Dụng & Văn Hóa:

Tuvien.com không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn hướng đến sự ứng dụng thực tiễn trong đời sống:

  • Phật pháp cho người bắt đầu: Hướng dẫn căn bản cho những người mới tìm hiểu.
  • VĂN HÓA: Bao gồm các mục như Truyện Phật Giáo, Chết & Tái sinh, Nghệ thuật sống đẹp, Thơ, Hình ảnh Phật Giáo.
  • Ăn chay: Cung cấp Hướng dẫn nấu chayTài liệu chữa bệnh liên quan, hỗ trợ Phật tử thực hành nếp sống thanh tịnh.

Đặc biệt: Ngôi Chùa Online – Nơi Phật tử Về Nương Tựa

Hiểu được rằng không phải Phật tử nào cũng có điều kiện đến chùa thường xuyên, Tuvien.com đã xây dựng một Ngôi Chùa Online độc đáo. Tại đây, quý Phật tử có thể thực hiện các nghi thức tâm linh ngay trên website:

  • Cúng bái thắp hương: Thể hiện lòng thành kính với chư Phật, Bồ Tát.
  • Cầu siêu, Hộ niệm: Thực hành các nghi thức tâm linh quan trọng cho người đã khuất hoặc người bệnh.

Tuvien.com chính là cầu nối tâm linh vững chắc, giúp mọi người duy trì việc học hỏi và tu tập Phật pháp, mang ánh sáng từ bi và trí tuệ vào cuộc sống hàng ngày. Hãy truy cập ngay Tuvien.com để khám phá kho tàng tri thức vô giá này!


Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa
(Trọn bộ 24 tập)

Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm
Khảo dịch: Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Sàigòn - 1998

--- o0o ---

 

Quyển thứ  368

HỘI THỨ NHẤT  

Phẩm

Khắp Học Đạo

Thứ 64-3

 

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán sắc hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thọ tưởng hành thức hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thọ tưởng hành thức hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thọ tưởng hành thức hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thọ tưởng hành thức hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thọ tưởng hành thức hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thọ tưởng hành thức hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thọ tưởng hành thức hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu. Nên quán nhãn xứ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xứ hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xứ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xứ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xứ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xứ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xứ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán sắc xứ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp xứ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc xứ hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp xứ hoặc vui  hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc xứ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp xứ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc xứ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp xứ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc xứ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp xứ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc xứ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp xứ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc xứ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán thanh hương vị xúc pháp xứ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán nhãn giới hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý giới hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán sắc giới hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc  pháp giới hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp  giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý  luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị  xúc pháp giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa. Chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán sắc giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thanh hương vị xúc pháp giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán nhãn thức giới hoặc thường hoặc thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn thức giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn thức giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn thức giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tý thiệt thân ý thức giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn thức giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn thức giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn thức giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán nhãn xúc hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận: nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết kháp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẵm sâu, nên quán nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận;  nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán địa giới hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thủy hỏa phong không thức giới hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán địa giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận, nên quán thủy hỏa phong không thức giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán địa giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thủy hỏa phong không thức giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán địa giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thủy hỏa phong không thức giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán địa giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thủy hỏa phong không thức giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán địa giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thủy hỏa phong không thức giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán địa giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán thủy hỏa phong không thức giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu. Nên quán vô minh hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc thọ, ái, thủ, hữu, sanh lão tử sầu thán khổ ưu não hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán vô minh hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán vô minh hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán vô minh hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận, nên quán hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán vô minh hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán vô minh hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán vô minh hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán hành cho đến láo tử sầu thán khổ ưu não hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thắm sâu, nên quán bố thí Ba la mật đa hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bố thí Ba la mật đa hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tịnh giới cho đến bát nhã Ba la mật đa hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bố thí Ba la mật đa hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tịnh giới cho đến bát nhã Ba la mật đa hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bố thí Ba la mật đa hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tịnh giới cho đến bát nhã Ba la mật đa hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bố thí Ba la mật đa hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tịnh giới cho đến bát nhã Ba la mật đa hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bố thí Ba la mật đa hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tịnh giới cho đến bát nhã Ba la mật đa hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bố thí Ba la mật đa hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tịnh giới cho đến bát nhã Ba la mật đa hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán nội không hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không,  hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không. bổn tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nội không hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nội không hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nội không hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nội không hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nội không hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán nội không hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thắm sâu, nên quán chơn như hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến di tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới, hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán chơn như hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán pháp giới cho đến bất tư nghì giới hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán chơn như hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán pháp giới cho đến bất tư nghì giới hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán chơn như hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán pháp giới cho đến bất tư nghì giới hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán chơn như hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán pháp giới cho đến bất tư nghì giới hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán chơn như hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán pháp giới cho đến bất tư nghì giới hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán chơn như hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán pháp giới cho đến bất tư nghì giới hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán bốn niệm trụ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn. năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn niệm trụ hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn niệm trụ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn niệm trụ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn niệm trụ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn niệm trụ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn niệm trụ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu. Nên quán khổ thánh đế hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tập diệt đạo thánh đế hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán khổ thánh đế hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tập diệt đạo thánh đế hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán khổ thánh đế hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tập diệt đạo thánh đế hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán khổ thánh đế hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tập diệt đạo thánh đế hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán khổ thánh đế hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tập diệt đạo thánh đế hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán khổ thánh đế hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tập diệt đạo thánh đế hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán khổ thánh đế hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tập diệt đạo thánh đế hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán bốn tĩnh lự hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô lượng, bốn vô sắc định hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn tĩnh lự hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô lượng, bốn vô sắc định hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn tĩnh lự hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô lượng, bốn vô sắc định hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn tĩnh lự hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô lượng, bốn vô sắc định hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn tĩnh lự hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô lượng, bốn vô sắc định hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn tĩnh lự hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô lượng, bốn vô sắc định hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán bốn tĩnh lhoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô lượng, bốn vô sắc định hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán tám giải thoát hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tám giải thoát hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tám giải thoát hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tám giải thoát hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tám thắng xứ, chín thứ đệ định. mười biến xứ hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tám giải thoát hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tám giải thoát hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tám giải thoát hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán tam ma địa môn hoặc thường hoặc vô thường, chẳng kháluận vậy chẳng nên hý luận; nên quán đà la ni môn hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quản tam ma địa môn hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán đà la ni môn hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên  hý luận. Nên quán tam ma địa môn hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán đà la ni môn hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tam ma địa môn hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận: nên quán đà la ni môn hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tam ma địa môn hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán đà la ni môn hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tam ma địa môn hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán đà la ni môn hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán tam ma địa môn hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán đà la ni môn hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán không giải thoát môn hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán vô tướng, vô nguyện giải thoát môn hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán không giải thoát môn hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán vô tướng, vô nguyện giải thoát môn hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán không giải thoát môn hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán vô tướng, vô nguyện giải thoát môn hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán không giải thoát môn hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán vô tướng, vô nguyện giải thoát môn hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán không giải thoát môn hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán vô tướng, vô nguyện giải thoát môn hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán không giải thoát môn hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán vô tướng, vô nguyện giải thoát môn hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán không giải thoát môn hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán vô tướng, vô nguyện giải thoát môn hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán Cực hỷ địa hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Cực hỷ địa hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán Ly cấu địa cho đến Pháp vân địa hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Cực hỷ địa hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán Ly cấu địa cho đến Pháp vân địa hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Cực hỷ địa hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán Ly cấu địa cho đến Pháp vân địa hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Cực hỷ địa hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán Ly cấu địa cho đến Pháp vân địa hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Cực hỷ địa hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán Ly cấu địa cho đến Pháp vân địa hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Cực hỷ địa hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng  khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán Ly cấu địa cho đến Pháp vân địa hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu. Nên quán năm nhãn hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán sáu thần thông hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán năm nhãn hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý  luận; nên quán sáu thần thông hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán năm nhãn hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá  hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán sáu thần thông hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán năm nhãn hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng  nên hý luận; nên quán sáu thần thông hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán năm nhãn hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán sáu thần thông hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán năm nhãn hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán sáu thần thông hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán năm nhãn hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán sáu thần thông hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, nên quán Phật mười lực hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô sở úy bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc thường hoặc vô thường, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Phật mười lực hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc vui hoặc khổ, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Phật mười lực hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc ngã hoặc vô ngã, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Phật mười lực hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc tịnh hoặc bất tịnh, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Phật mười lực hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc vắng lặng hoặc chẳng vắng lặng, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Phật mười lực hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận. Nên quán Phật mười lực hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận; nên quán bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng hoặc đây bị biết khắp hoặc chẳng bị biết khắp, chẳng khá hý luận vậy chẳng nên hý luận.

 

--- o0o ---

Mục Lục Tập 15

Quyển thứ: |  351 | 352 |  353 | 354 | 355

 356 |  357 | 358 | 359 | 360| 361| 362 | 363 | 364 | 365

366 | 367 | 368 | 369| 370| 371| 372 | 373 | 374 | 375

--- o0o ---

Mục Lục Tổng Quát Kinh Bát Nhã

Tập:  1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 78 | 9 | 10 | 11 | 12

13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24  

--- o0o ---

Vi tính: Nhị Tường
Cập nhật: 01-12-2006

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

Регина Збарская с Ллойдом 波羅蜜 自己評価式抑うつ性尺度 노 일본어 도봉구 서울 シアーシャ モニカ ジャクソン ប រ ក کابل پارالل ダウンロード 削除 復元 门愿如多大正高 외국인 불교모양 日高氷夜 エロ動画 æ³ä¼š お寺との付き合い 檀家 규모영어로 地球投げ ด หน ง Әбілқайырдың жинаған 勘比 Thói 山口智子 濡れ場 火地 ÄÆ 아이누인 пелевин из жизни насекомых интервю с рептил 엄마섹스 thừa 뚱파린포체 長崎県中学校体育連盟 mười cách tạo phước lành 法人役員の住所変更 คตศลป hoa nghiem co tu chùa thanh trước å¹³ç å èŒ 念空王啸 용복서적 сабацгис ตารางเง นเด อน 狛江市 秋元石材店 玄関 英語 피아이씨 비콘 車に気を付けて 台灣嘉品資產管理有限公司 จะเข ยนบทสนทนาต сайт для записи на экзамен 心经全文 강남치과청소 박지 여장갤