Sự tích Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni

(Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005) 

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh

Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội: 

Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai

---o0o---

 

Phần 9

 

11- Hạ thứ 16 tại thành phố Alavi (năm -574)

 

Phật độ quỷ dạ-xoa Alavaka (quỷ Khoáng-Dã)[1] 

Sau mùa an cư thứ 15, Phật đi hoằng hóa về miền nam. Phật nhập hạ thứ 16 tại thành phố Alavi, thuộc tả ngạn sông Ganga, cách Benares (Varanasi) không xa. Gần nơi an cư có một ngôi miếu hoang vắng ở phía đông đền Narayana (Na-la-diên) thờ thần Visnu (Tỳ-nữu). Ðó là miếu thờ quỷ dạ xoa (yakkha) Alavaka[2] rất hung dữ, thích ăn thịt người. Một hôm, Phật vào ngôi miếu đó ngồi tham thiền. Quỷ Alavaka giận dữ đến trước mặt Phật hét lớn:

- Ði ra khỏi nơi đây! Mau lên.

- Ðược rồi, Như Lai đi ra đây.

- Bây giờ hãy trở vào!

Ðức Phật  lại quay trở vào miếu. Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, quỷ Alavaka ra lệnh cho Phật đi ra đi vào như thế, Phật đều làm theo ý nó. Quỷ Alavaka lấy làm thích chí lại hét bảo Phật đi ra. Phật nói:

- Như Lai đã chìu ý đạo hữu ba lần rồi. Như vậy là đủ rồi. Bây giờ Như Lai muốn được ngồi đây trong sự yên tĩnh.

- Ðược, này ông sa-môn, ta sẽ hỏi ông 13 câu. Nếu ông đáp được, ta sẽ để yên cho ông tự ý muốn ngồi lại đây bao lâu cũng được. Nhưng nếu ông không giải đáp được, ta sẽ phân tán tâm ông, cắt xẻ tim ông, nắm chân ông quăng tuốt qua phía bên kia sông Ganga.

- Này Alavaka, không thể được. Trên thế gian này Như Lai không thấy ai, dù là chư thiên, sa-môn, bà-la-môn, hay một đám đông người, không ai có thể phân tán tâm Như Lai, hoặc cắt xẻ tim Như Lai, hoặc nắm chân Như Lai quăng qua phía bên kia sông Ganga. Tuy nhiên, đạo hữu muốn hỏi việc gì cứ hỏi.

Alavaka liền nêu lên mấy câu hỏi sau đây:

1-     Vật sở hữu quý nhất của con người là gì?

2-     Ðiều gì, nếu thực hành đúng, sẽ đem lại hạnh phúc?

3-     Hương vị nào ngọt ngào hơn tất cả?

4-     Sống thế nào là cao thượng nhất?

Ðức Phật đáp:

1-     Niềm tin sáng suốt là vật sở hữu quý nhất của con người.

2-     Giáo pháp cao thượng, nếu thực hành đúng, sẽ đem lại hạnh phúc.

3-     Lòng từ bi là hương vị ngọt ngào nhất.

4-     Sống với trí tuệ là cao thượng nhất.

Alavaka lại hỏi tiếp:

5-     Làm sao vượt qua trận thủy tai? (Làm sao qua khỏi 1 tai nạn nguy hiểm?)

6-     Làm sao vượt trùng dương? (Làm sao thực hiện được 1 việc khó khăn to lớn?)

7-     Làm sao chế ngự được phiền não?

8-     Tự thanh lọc bằng cách nào? (Làm sao thân tâm được thanh tịnh?)

Ðức Phật đáp:

5-     Vượt qua trận thủy tai bằng niềm tin.

6-     Vượt trùng dương bằng đức kiên trì.

7-     Chế ngự phiền não bằng tính nhẫn nhục.

8-     Tự thanh lọc bằng trí tuệ.

Alavaka lại hỏi:

9-     Làm sao thành đạt trí tuệ?

10- Làm sao lập nên sự nghiệp?

11- Làm sao thành đạt danh vọng?

12- Làm sao cho tình bằng hữu trở nên khắng khít?

13- Làm sao được sạch phiền não khi qua đời?

Ðức Phật đáp:

9-     Có niềm tin sáng suốt, kiên trì tu tập Giáo Pháp của bậc Ðại giác, sẽ thành đạt trí tuệ có khả năng dẫn đến niết-bàn.

10- Sáng suốt, kiên trì, cần mẫn làm việc, sẽ lập nên sự nghiệp.

11- Tính chân thật sẽ làm cho thành đạt danh vọng.

12- Ðức quảng đại khoan dung làm cho tình bằng hữu trở nên khắng khít.

13- Người cư sĩ có bốn phẩm hạnh: chân thật, giới đức, can đảm và khoan dung, sẽ không phiền não khi qua đời.

Nếu đạo hữu còn nghi ngờ, hãy đi hỏi các vị sa-môn và bà-la-môn khác xem họ có gì quý báu, cao thượng hơn tính chân thật, tự kiểm soát, quảng đại và nhẫn nại không?

Quỷ Alavaka đã hiểu lời Phật dạy, bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn, nhờ Thế Tôn chỉ dạy, con đã thấu hiểu bí quyết để mưu cầu an lạc trong tương lai. Con đâu còn phải đi hỏi các vị sa-môn hay bà-la-môn khác nữa làm gì. Hôm nay, đức Thế Tôn quang lâm đến Alavi chính vì sự an lành của con. Con đã hiểu rằng pháp thí đem lại quả lành phong phú. Từ nay con sẽ đi từ làng này sang làng khác, từ đô thị này đến thị trấn kia để tán dương công đức và giáo pháp cao thượng của bậc Chánh Biến Tri.

- Này Alavaka, muốn được an lạc thì phải giữ giới thanh tịnh, nhất là 4 trọng giới sát sanh, trộm cướp, dâm dục, nói dối. Liệu ngươi có giữ được không?

- Bạch Thế Tôn, đối với 3 giới trộm cướp, dâm dục và nói dối thì con giữ được. Nhưng con và quyến thuộc của con chỉ nhờ ăn máu thịt mà được sống, nay thọ giới không sát hại thì biết lấy gì để sống?

- Này thiện nam tử, Như Lai sẽ bảo các vị khất sĩ (tỳ-kheo) từ nay trở đi, vào mỗi bửa ngọ trai phải thường thí thực cho ngươi và quyến thuộc của ngươi.[3]

- Bạch Thế Tôn, con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, và nguyện từ nay sẽ hết lòng hộ trì Chánh Pháp.

Nói xong, quỷ dạ-xoa Alavaka đảnh lễ Phật rồi lui ra đi mất.

 

12- Hạ thứ 17 tại Venuvana (năm -573)

 

Có ai muốn mua thi hài người đẹp Sirima không?[4] 

Sau mùa an cư thứ 16 tại Alavi, Phật đến Benares (Varanasi) giáo hóa một thời gian, rồi ngài đi lần về hướng đông, trở về Venuvana ở thủ đô Rajagriha của xứ Magadha. Phật nhập hạ thứ 17 tại Venuvana. Trong hạ này, cô gái giang hồ trẻ đẹp nổi tiếng tên Sirima, em cùng mẹ với y sĩ Jivaka, qua đời tại Rajagriha. Cô chỉ mới độ 25 tuổi. Cái chết đột ngột của cô làm chấn động dư luận quần chúng tại thủ đô, nhất là trong giới quý tộc và trưởng giả. Jivaka thỉnh Phật đến dự lễ hỏa táng của người em gái xấu số.

Trước khi tẩn lịm, đức Phật nói với đại diện chính quyền hãy truyền rao trong dân chúng xem có ai muốn mua thi hài người đẹp Sirima không? Không ai lên tiếng mua, mặc dù trị giá ban đầu là 1000 quan tiền, sụt lần xuống chỉ còn 1 quan. Phật lại bảo truyền rao xem có ai muốn nhận lãnh thi hài người đẹp mà khỏi phải trả tiền không. Cũng không ai lên tiếng nhận lãnh. Ðức Phật nói:

- Quý vị hãy nhìn kia, cái thân hình mà lúc còn sống đã quyến rũ và thu hút bao nhiêu người, bây giờ đang nằm đó, không ai màng đến, không ai muốn nhận lãnh dù khỏi phải trả tiền. Thân người dù đẹp đẽ, sang trọng, dù được chăm sóc chu đáo bằng những thức ăn ngon, bằng cách phục sức lộng lẫy, đến khi trút hơi thở cuối cùng cũng phải chịu tàn hoại và tan rã, không còn giữ được cái gì gọi là đẹp, gọi là quý giá nữa. Quý vị không nên quý trọng thân xác, mà hãy chú trọng đến việc trau dồi đức hạnh, hành trì giáo pháp cao thượng của bậc giác ngộ để ra khỏi cảnh đau khổ luân hồi, đạt đến cảnh niết-bàn an lạc thanh tịnh. Ðó mới là hạnh phúc chân thật.

Rồi đức Phật nói bài kệ sau đây:

"Hãy nhìn cái thân hình xinh đẹp kia,

"Giờ đây chỉ còn là một thể xác đầy đau thương,

"Một đống thịt xương bệnh tật đang tàn hoại.

"Tuy được nhiều người bận tâm lo lắng,

"Nhưng trong đó không có gì trường tồn, ổn định. (Kinh Pháp Cú, bài 147)

 

13- Hạ thứ 18 tại tảng đá Caliya, xứ Koliya (năm -572)

 

Con gái người thợ dệt ngộ đạo[5] 

Phật nhập hạ thứ 18 tại tảng đá Caliya, gần thành phố Calika, xứ Koliya. Sau khi mãn hạ, đức Phật về Jetavana giáo hóa một thời gian, rồi ngài lại đi về miền nam, đến thành phố Alavi bên bờ sông Ganga, để độ cô gái 18 tuổi, con một người thợ dệt. Gần ba năm trước, lúc Phật nhập hạ tại Alavi, cô được nghe Phật dạy quán tưởng về cái chết (Marana-anussati) như sau:

- Quý vị hãy siêng năng thực hành thiền định, quán niệm về cái chết. Quý vị nên nghĩ rằng "Ðời sống không ổn định, cái chết thì chắc chắn. Chắc chắn tôi sẽ chết. Cái chết sẽ chấm dứt đời tôi. Cuộc đời không vững bền, không ai tránh khỏi cái chết." Khi tử thần đến, người không quen quán niệm về cái chết sẽ ra đi trong đau khổ và sợ sệt, cũng như một người run rẩy kinh hoàng khi bất thình lình thấy một con rắn xuất hiện bên mình. Người quen quán niệm về cái chết sẽ bình tĩnh, không sợ sệt vào lúc lâm chung, cũng như người quen gặp rắn bình tĩnh dùng gậy hất con rắn ra xa rồi tiếp tục đi.

Về nhà, cô thường xuyên suy gẫm về những lời dạy của đức Phật. Hôm nay được tin Phật trở lại tinh xá Aggalava tại Alavi, cô gái muốn đến hầu Phật và nghe pháp. Nhưng hồi sáng nầy, trước khi đi đến xưởng dệt, cha cô căn dặn cô phải quấn mấy cái suốt chỉ cho đầy rồi mau mau đem đến xưởng để ông dệt gấp cho xong tấm lụa để giao gấp cho một khách hàng quan trọng. Cô gái lo quấn gấp mấy cái suốt chỉ cho xong trong buổi sáng, nhưng đến gần giờ ngọ mới xong. Cô lật đật thay áo định đem mấy cái suốt chỉ ra xưởng cho cha rồi lúc trở về sẽ ghé tinh xá Aggalava nghe Phật thuyết pháp.

Ðến giờ ngọ, dân chúng dâng vật thực cúng dường đức Thế Tôn và các vị khất sĩ. Sau khi Phật thọ trai xong, dân chúng khao khát được nghe pháp. Nhưng đức Phật ngồi lặng thinh, không nói một lời.

Trên đường đi đến xưởng dệt, lúc đi ngang qua tinh xá Aggalava, cô gái thấy rất đông người tụ họp. Cô len lỏi vào đám đông để được đến gần nhìn thấy mặt Phật. Cô vừa nhìn thấy mặt Phật thì Phật cũng vừa ngẩng đầu lên nhìn thấy cô. Cô vội đặt giỏ suốt chỉ xuống, thành tâm bước đến đảnh lễ Phật. Ðức Phật hỏi:

- Con từ đâu đến?

- Bạch Thế Tôn, con không biết.

- Rồi con sẽ đi về đâu?

- Bạch Thế Tôn, con không biết.

- Con không biết sao?

- Dạ, con biết.

- Con biết thật không?

- Dạ, con không biết.

Ðại chúng ngồi nghe bốn câu vấn đáp giữa đức Phật và cô gái, ai cũng ngơ ngác chẳng hiểu gì, họ cho rằng cô gái trả lời ngớ ngẩn. Ðức Phật  thương xót đại chúng nên hỏi tiếp cô gái:

- Này con, khi Như Lai hỏi Con từ đâu đến? tại sao con nói Con không biết?

- Bạch Thế Tôn, ngài hẳn đã biết con từ nhà đến đây. Nhưng ý ngài muốn hỏi con từ cảnh giới nào tái sanh đến đây. Ðiều đó con không biết..

- Này con, khi Như Lai hỏi Rồi con sẽ đi về đâu?tại sao con nói Con không biết?

- Bạch Thế Tôn, ngài hẳn đã biết con đang đi đến xưởng dệt vì con đang cầm giỏ suốt chỉ trên tay. Nhưng ý ngài muốn hỏi con sẽ tái sanh về đâu. Ðiều đó con không biết..

- Khi Như Lai hỏi Con không biết sao?tại sao con đáp Con biết?

- Bạch Thế Tôn, vì con biết chắc chắn rằng con sẽ chết.

- Khi Như Lai hỏi Con biết thật không?sao con đáp Con không biết ?

- Bạch Thế Tôn, vì con không biết rõ chừng nào con sẽ chết.

Ðức Phật khen ngợi cô gái sáng trí đã hiểu ý Phật, rồi ngài nói bài kệ:

"Thế gian này mù quáng,

"Chẳng mấy người thấy rõ.

"Số người vào nhàn cảnh thật hiếm hoi,

"Như số chim thoát khỏi lưới. (Kinh Pháp Cú, bài 174)

Sau bốn câu hỏi của đức Phật, cô gái chứng quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna). Cô đảnh lễ dưới chân Phật rồi lui ra, đem mấy suốt chỉ đến xưởng dệt cho cha. Chiều hôm đó, tại xưởng dệt, cô bị tai nạn qua đời. Cha cô vô cùng đau khổ, đến hầu Phật, thuật lại cái chết tức tưởi bất ngờ của cô. Ðức Phật giảng Tứ-diệu-đế để khuyên giải ông và cho ông biết con gái ông đã được vãng sanh về cung trời Ðâu-suất (Tusita). Sau đó ông xin được xuất gia, tinh tấn tu hành, ít lâu sau đắc quả A-la-hán.

 

14- Hạ thứ 19 tại Griddhakuta (năm -571)

 

Mùa an cư thứ 19 Phật ngụ tại Griddhakuta (hay Gijjhakuta, núi Linh-Thứu). Griddhakuta là một ngọn núi nhỏ ở phía nam núi Chhatha. Trên đỉnh núi có một tảng đá lớn bằng phẳng độ 45 m2 là nơi Phật cư trú và thuyết pháp. Vua Bimbisara đã cho xây một con đường bằng đá từ chân núi lên đến nơi Phật cư trú. Hai bên con đường này và xung quanh núi có nhiều hang đá của các vị khất sĩ ở. Hang đá mà đại đức Ananda thường ở nằm bên phải vệ đường Bimbisara khi lên gần tới tịnh thất của Phật. Một hôm, đại đức Ananda đang ngồi thiền trong hang đá này, bị Ma-vương hóa làm một con chim thứu to lớn đứng trước cửa hang dọa nạt. Ðức Phật dùng thần thông đưa tay vào hang đá nắm vai đại đức để trấn an. Dưới chân núi Griddhakuta có đền Maddakuchchi là nơi hoàng hậu Videhi chà xát bụng định phá thai. Xa hơn một chút, đến gần cổng phía đông thành Rajagriha (Vương-Xá) là khu vườn xoài của y sĩ Jivaka. Mỗi khi Phật cư trú tại Linh-Thứu thì vua Bimbisara và y sĩ Jivaka thường lui tới để thăm viếng, cúng dường và nghe pháp.

 

Phật truyền tâm ấn cho đại đức Maha-Kassapa (Niêm hoa vi tiếu[6]) 

Một hôm, đến giờ thuyết pháp trên đỉnh núi Griddhakuta (Linh-Thứu), Phật từ trong tịnh thất bước ra, tay cầm một cành hoa sen màu vàng đưa lên cao, ngài im lặng đưa mắt nhìn khắp đại chúng mà không nói lời nào. Ðại chúng nhìn Phật một hồi rồi ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu ý Phật muốn nói gì. Một lát sau, Phật lên tiếng:

- Này Maha-Kassapa, Như Lai có "Chánh pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn"[7], hôm nay truyền lại cho thầy. Thầy hãy nhận lấy.

Mọi người đưa mắt nhìn về phía đại đức Maha-Kassapa. Nụ cười vẫn còn phưởng phất trên đôi môi của đại đức. Mắt thầy vẫn nhìn lên Phật, mặt thầy rạng rỡ.

Nhận thấy phần đông đại chúng còn chưa hiểu, Phật khai thị:

- Này các thầy, khi Như Lai đưa cành hoa sen lên trước đại chúng, tất cả các thầy đều có cơ hội đồng đều nhìn thấy cành hoa. Nhưng phần đông các thầy khởi nghĩ "Vì cớ gì mà hôm nay sa-môn Gotama đưa cành hoa lên lại không nói một lời?". Này các thầy, khi đã sinh tâm khởi nghĩ là ta đã mất chánh niệm, tâm đã động, không còn khả năng trực nhận được thực tại nữa. Chư Phật mười phương đều có tâm thanh tịnh không nghĩ tưởng, do đó các ngài luôn luôn an trú nơi niết-bàn diệu tâm thường trụ an lạc không thể nghĩ bàn. Trong lúc Như Lai đưa hoa sen lên, chỉ có Maha-Kassapa hiểu được ý Như Lai. Vì tâm thầy đã được thanh tịnh nên mới đối cảnh vô tâm, do đó thâm nhập được tri kiến Phật. Thầy Maha-Kassapa là người có đầy đủ khả năng bảo trì và xiển dương Chánh Pháp.

Tất cả đại chúng nghe tới đây đều hoan hỷ và cho rằng đại đức Maha-Kassapa là người đã được Phật truyền tâm ấn. Thiền tông bắt nguồn từ đây.

 

Vị lương y Jivaka 

Jivaka là con rơi của vua Bimbisara với bà Ambapali, lúc ngài còn là thái tử. Chàng học thuốc từ năm 14 tuổi tại thủ đô Rajagriha. Năm đó, chàng đã được mẹ tới đón, đưa đến tinh xá Venuvana thăm Phật. Năm nay (-571) Jivaka đã được 31 tuổi. Tốt nghiệp ngành y từ năm 23 tuổi, Jivaka đã trở nên một lương y nổi tiếng sau khi chữa lành cho nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo. Jivaka cũng là vị lương y của vua Bimbisara và đức Phật. Chính y sĩ Jivaka đề nghị với Phật một số biện pháp vệ sinh cần được áp dụng cho các vị khất sĩ như việc chấp tác quét dọn nhằm tạo điều kiện cho cơ thể vận động. Y phục mỗi bảy ngày phải được giặt ít nhất một lần. Mỗi vị khất sĩ nên có một dụng cụ lượt nước để uống. Nước uống lấy từ ao hồ phải được đun sôi. Nhà tắm cần được dựng thêm trong tinh xá. Thức ăn hôm nay không nên để dành lại ngày hôm sau. Tất cả những điều Jivaka đề nghị, Phật đều chấp thuận. Ðến sau hạ thứ 39, y sĩ Jivaka được 51 tuổi, lúc Phật từ Jetavana trở về Griddhakuta, ông xin xuất gia và được Phật ban pháp tự[8] là Vimala Kondanna.

 

Phước điền y (sanghati, áo tăng-già-lê) 

Lúc bấy giờ cúng dường áo tăng-già-lê (sanghati) đã trở nên một hành động rất phổ thông trong dân chúng. Có một hôm Phật thấy một vị khất sĩ đi khất thực về, trên vai có một xấp áo sanghati dầy cộm, Phật hỏi:

- Thầy có bao nhiêu y tất cả?

- Bạch Thế Tôn, con được cúng dường tất cả tới tám cái y.

- Thầy cần dùng nhiều y đến thế sao?

- Bạch Thế Tôn, con không cần nhiều y như thế, nhưng vì ngườI ta cúng dường nên con phải nhận.

- Theo thầy thì mỗi vị khất sĩ cần có bao nhiêu y là đủ?

- Bạch Thế Tôn, con nghĩ ba y là vừa đủ cho mỗi người. Ngồi thiền trong rừng lạnh, hoặc ngủ đêm dưới gốc cây mà có được ba y là đủ ấm.

- Như Lai cũng thấy như vậy. Từ nay về sau, mỗi vị khất sĩ chỉ nên có một bình bát và ba bộ cà-sa mà thôi. Nếu được cúng dường thêm, quý thầy nên từ chối.

Một hôm khác, Phật đứng trên một ngọn đồi cao nhìn xuống một khu ruộng rộng lớn, lúa chín vàng rực rỡ, có những bờ đê nhỏ chia ra thành những ô vuông trông rất đẹp mắt. Phật bảo:

- Này Ananda, thầy có thấy khu ruộng lúa dưới chân đồi kia không? Thật là đẹp! Thầy nghĩ sao? Ta có nên may áo sanghati cho các vị khất sĩ theo kiểu mẫu này không?

- Bạch Thế Tôn, con thấy ý đó rất hay. Từ trước đến nay áo sanghati thường được may bằng những mảnh vải vụn kết lại với nhau. Tùy theo con mắt mỹ thuật của người may, có khi áo may xong thật đẹp, có khi rất khó coi. Chi bằng có một kiểu mẫu nhất định về cách kết hợp những mảnh vải vuông nhỏ, thì các vị khất sĩ sẽ có được một kiểu áo đồng nhất dễ coi hơn. Con cũng đã từng nghe Thế Tôn nói một vị khất sĩ tu học nghiêm chỉnh là một thứ đất ruộng rất tốt, đà-na tín-thí (danapati) cúng dường cho vị khất sĩ đó chẳng khác nào gieo những hạt giống phước đức cho hiện tại và tương lai. Vậy nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ thảo luận lại với các sư huynh lớn để nghiên cứu và đề nghị một kiểu mẫu vừa đẹp vừa tiện lợi và xin gọi kiểu áo đó là phước-điền-y.

Phật mỉm cười gật đầu ưng thuận.

Sau khi mãn hạ thứ 19, Phật lên đường đi về phương bắc, dự trù sẽ nhập hạ kỳ tớI tại Jetavana ở Sravasti.

 

15- Hạ thứ 20 tại Jetavana (năm -570)

 

Angulimala xuất gia sau khi đã giết 999 người[9] 

Một buổi sáng, Phật đi vào thành Sravasti khất thực. Khất thực xong, ngài tìm nơi ngồi thọ trai một mình ở một mé rừng. Thọ trai xong, ngài đứng dậy đi ra ngoại ô theo một con đường lớn vắng vẻ. Vài người nông dân thấy Phật, vội chạy đến bảo:

- Bạch Thế-tôn, đi đường này hôm nay nguy hiểm lắm. Người ta cho biết tên sát nhơn Angulimala hiện đang có mặt trong vùng này. Hắn là người rất hung bạo, giết người không gớm tay, quan quân đều nể sợ. Mỗi khi giết được ai, hắn cắt ngón tay út của người đó, xỏ thành xâu đeo trên cổ, hiện nay hắn đã có hằng ngàn ngón tay rồi.

Nhiều người đã đến gặp Phật, nói như thế. Nhưng Phật chỉ cám ơn rồi tiếp tục đi. Ðến đoạn đường hoàn toàn không có bóng người, Angulimala trông thấy Phật, liền ẩn mình trong bóng cây bên vệ đường, theo dõi một lúc rồi cầm đao xong ra đường chạy theo. Ban đầu hắn chạy chậm, về sau hắn chạy càng lúc càng nhanh hơn, cho đến khi mồ hôi nhễ nhại mà vẫn không bắt kịp đức Phật, trong lúc hắn thấy đức Phật chỉ bước đi một cách khoan thai. Hắn bực tức hét lớn:

- Ông sa-môn kia, hãy dừng lại!

- Này Angulimala, mặc dù bước đi, Như Lai đã dừng lại. Còn ông, ông đã dừng lại chưa?

- Này sa-môn, ông không nói dối chứ!? Ông nói ông đã dừng lại, sao tôi chạy theo ông nãy giờ mà không bắt kịp?

- Ðúng vậy, Angulimala, Như Lai đã dừng lại từ lâu rồi. Ðã từ lâu Như Lai không còn sát hại hay làm tổn thương bất cứ một sinh mạng nào. Còn ông, ông đã sát hại bao nhiêu mạng người với chứng tích vòng hoa kết bằng những ngón tay trên cổ ông kia. Hai tay ông và cả tâm hồn ông dính đầy máu. Chính ông là người phải dừng lại. Này Angulimala, không thể tìm được hạnh phúc bằng hành động sát hại. Sát hại chỉ gây ra ghê sợ, thù hận và đau khổ. Này Angulimala, chỉ có những hành động ban vui, cứu khổ, hòa nhã với mọi người, tha thứ mọi lỗi lầm của người khác mới đem lại hạnh phúc mà thôi.

Angulimala rất ngạc nhiên. Ðã từ lâu không ai dám đến gần ông ta. Ðã từ lâu không ai dám đứng nhìn ông ta dù từ xa. Thế mà hôm nay vị sa-môn này lại có vẻ oai nghiêm bình tĩnh đứng trước mặt ông ta, nhìn thẳng vào mắt ông ta, dùng lời nói ôn tồn hòa nhã khuyên nhủ ông. Phải rồi, vị này không phải ai khác hơn là sa-môn Gotama mà ông từng nghe tiếng. Angulimala buông đao xuống đất, xụp xuống đảnh lễ dưới chân Phật, rồi vừa khóc vừa nói:

- Bạch Thế Tôn, con là Ahimsaka xin đảnh lễ đức Thế Tôn. Con rất ân hận đã gặp Thế Tôn quá muộn màng. Con đã gây quá nhiều tội ác, không còn dừng lại được nữa. Con không còn cách nào để chuộc lại những lỗi lầm đã qua. Quan quân và dân chúng sẽ không để cho con yên.

- Này Ahimsaka, biết phục thiện, sám hối sự lỗi lầm, trở về đời sống chơn chánh, không bao giờ là quá sớm hay quá muộn. Này Ahimsaka, nếu ông gia nhập vào giáo đoàn khất sĩ, quyết tâm sống đời phạm hạnh, siêng năng tu hành theo chánh pháp thì Như Lai sẽ có cách bảo vệ cho ông.

- Bạch Thế Tôn, con nguyện từ đây hối cải, bỏ ác làm lành, quyết tâm theo Phật để học hạnh từ bi. Con xin Thế Tôn chấp nhận con làm đệ tử.

- Hãy đến đây, tỳ-kheo Ahimsaka, hãy sống đời thánh thiện!

Vừa lúc ấy các đại đức Sariputta, Ananda, Upali, Kimbila và nhiều vị khất sĩ khác xuất hiện. Hay tin Phật đang đi vào vùng đang có hiểm họa Angulimala, các đại đức vội đi tìm Phật. Bây giờ thấy Phật an lành và Angulimala đã quy phục, mọi người đều mừng rỡ. Phật bảo thầy Upali xuống tóc cho Ahimsaka; thầy Ananda trao cho Ahimsaka một cái áo sanghati; thầy Sariputta và Upali truyền dạy vài giới luật và giáo pháp căn bản. Rồi mọi người theo Phật trở về tinh xá Jetavana.

Về đến tinh xá Jetavana, Angulimala kể lại cho Phật nghe cuộc đời của ông ta như sau: Angulimala (Ươn-quật-ma) lúc nhỏ tên là Ahimsaka (Người vô tội). Cha là Gagga, quốc sư của vua Pasenadi xứ Kosala. Mẹ là Mantani. Ông được cha cho đến Taxila[10] (Takshasila) học với một đạo sư danh tiếng. Ahimsaka rất thông minh nên đã trở thành một đệ tử lỗi lạc. Vì thế mà bạn bè sinh lòng ganh tị, bịa chuyện nói xấu ông với thầy. Thầy ông tin lời, lấy làm tức giận, mưu hại Ahimsaka bằng cách truyền lệnh cho ông phải giết một ngàn người và nộp đủ một ngàn ngón tay út của bàn tay phải để ông làm phép truyền dạy cho nhiều môn thần thông đặc biệt. Ahimsaka tưởng thật, vâng lời. Sau khi giết vài người để chặt lấy ngón tay út, ông bị chánh quyền ra lệnh tầm nã, phải vào ở ẩn trong rừng Jalini. Lần hồi ông trở nên một tên sát nhân ghê gớm, võ nghệ cao cường, xuất quỷ nhập thần, đến cả quan quân triều đình đều phải nể sợ. Vua Pasenadi ra lệnh lùng bắt Ahimsaka và treo giải thưởng cho ai bắt được ông, nhưng đến nay chưa ai làm được việc này. Những ngón tay chặt được, ông xỏ xâu như một vòng hoa đeo trên cổ để khỏi bị chim hay thú ăn mất. Do đó người ta gọi ông là Angulimala (Vòng hoa kết bằng những ngón tay). Khi ông đã được 999 ngón tay thì dân chúng quá hoảng sợ không dám ra khỏi nhà, quân lính tuần phòng rất nghiêm nhặt, Angulimala phải vất vả suốt đêm mà không tìm được ngón tay cuối cùng. Ông định bụng lẻn về nhà để chặt ngón tay của mẹ. Nhưng giữa đường thì gặp Phật.

Trong mười hôm liên tiếp, đại đức Ahimsaka được đại đức Upali hướng dẫn về giới luật và đại đức Sariputta chỉ dạy về giáo lý và các phương pháp thiền tọa, thiền hành, khất thực, thọ trai ... Ðại đức Ahimsaka nổ lực học hỏi và thực tập rất tinh tấn. Nửa tháng sau, khi đến thăm Ahimsaka tại am của thầy ở một nơi thanh vắng trong tinh xá Jetavana, đức Phật cũng phải ngạc nhiên về sự tiến bộ của thầy. Ahimsaka đã trở nên một vị khất sĩ trang nghiêm, hiền hòa với lời nói ôn tồn điềm đạm.

Tiếng đồn Angulimala đã xin xuất gia theo Phật đã đến tai vua Pasenadi. Dân chúng và triều thần đều cảm thấy nhẹ nhỏm. Uy tín của đức Phật và giáo đoàn khất sĩ càng vững mạnh. Ðộ một tháng sau ngày Angulimala xuất gia, vua Pasenadi đến tinh xá Jetavana viếng Phật và hỏi:

- Bạch Thế Tôn, trẫm nghe nói tên sát nhân Angulimala đã xin xuất gia theo ngài, có đúng thế không? Hiện nay hắn ở đâu? Hắn có làm điều gì nhiễu hại đến Thế Tôn không?

- Thưa Ðại vương, quả thật Angulimala đã xuất gia. Hiện nay thầy đang tịnh tu trong một am ở nơi thanh vắng trong tinh xá. Thầy đã quyết chí cải tà quy chánh, sống đời phạm hạnh, tinh tấn tu hành. Như Lai khuyên thầy nên ẩn cư tu tập cho đến cuối mùa an cư này.

- Bạch Thế Tôn, Angulimala là một tên sát nhân vô cùng nguy hiểm, là một mối họa lớn cho mọi người. Thế Tôn nên thận trọng để người coi chừng hắn.

- Ðại vương đừng ngại, thầy Ahimsaka bây giờ đã trở nên một khất sĩ thuần thành, thầy còn có nhiều triển vọng tiến xa hơn nữa.

- Bạch Thế Tôn, nếu được như vậy thì thật là một phước lớn cho dân chúng ở Sravasti, mọi người sẽ hết phập phòng lo sợ, được an ổn làm ăn. Ðiều mà trẫm không thực hiện được bằng binh hùng tướng mạnh, Thế Tôn đã hoàn thành bằng đức từ bi, chẳng những cứu dân chúng khỏi nạn lo sợ chết chóc mà còn độ được tên sát nhân Angulimala vào đường tu hành thánh thiện. Trẫm xin bái phục.

 

Tỳ-kheo Ananda được chọn làm thị-giả[11] thường xuyên cho Phật 

Trong khoảng 20 năm từ ngày đức Phật thành đạo đến nay, ngài đã có tất cả tám vị thị giả. Ðó là các thầy Nagasamala, Sunakkhatta[12], Upavana, Nagita, Sagatta, Radha, Meghiya và chú sa-di Cunda. Nhưng các vị này chỉ được đề cử với tính cách tạm thời. Chưa ai có đủ đức tính để làm thị giả thường xuyên cho Phật. Năm nay đức Phật đã 55 tuổi, một hôm, ngài nói với đại đức Sariputta:

- Này Sariputta, bây giờ Như Lai đã lớn tuổi rồi. Lắm khi Như Lai nói "Ta hãy đi lối này" thì có người lại đi lối kia. Cũng có người đánh rơi y bát của Như Lai. Vậy các thầy hãy chọn một người để thường xuyên hầu cận Như Lai.[13]

- Bạch Thế Tôn, đại đức Sariputta nói, con xin tình nguyện làm thị giả thường xuyên hầu cận Thế Tôn.

- Không được đâu, đức Phật đáp, thầy cũng đã lớn tuổi rồi và còn phải lo nhiều việc quan trọng hơn như tổ chức, điều hành và hướng dẫn Giáo đoàn.

Ðại đức Moggallana và nhiều vị đệ tử tên tuổi khác cũng xin tình nguyện làm thị giả, nhưng Phật đều từ chối. Riêng đại đức Ananda vẫn ngồi yên lặng.

Trong một buổi pháp đàm tại giảng đường Lộc Mẫu  ở tinh xá Ðông Viên, các đại đệ tử của Phật đi tới hai đề nghị quan trọng sau đây: 1- Ðề nghị thầy Ananda làm thị giả thường xuyên cho Phật; 2- Ðề nghị từ nay về sau, cứ tới mùa an cư thì thỉnh Phật trở về Sravasti nhập hạ.

Ðề nghị đầu là do đại đức Sariputta đưa ra. Ðại đức nói:

- Sư huynh Ananda là người có trí nhớ bền bỉ nhất trong chúng ta. Trí nhớ của sư huynh thật là lạ lùng, trên trần gian này không ai bì kịp. Mỗi khi Phật dạy điều gì mà có mặt sư huynh Ananda thì những lời Phật dạy không rơi rớt đi đâu cả. Khi trùng tuyên lại những điều Phật dạy thì sư huynh Ananda lập lại không sót một câu, không mất một tiếng. Vì vậy, nếu sư huynh làm thị giả cho Phật, sư huynh sẽ có dịp nghe hết những gì Phật nói, bất luận cho một đám đông hay cho một người. Lời dạy nào của Phật cũng quý báu không cùng, cần được ghi nhận đầy đủ để làm tài liệu cho hậu thế. Trong 20 năm qua, chúng ta đã dại dột để rơi rớt và mất mát khá nhiều. Vậy sư huynh Ananda nên vì tất cả các khất sĩ và vì các thế hệ tương lai mà nhận lãnh trách nhiệm làm thị giả cho Phật.

Các vị khất sĩ có mặt trong buổi họp đều tán đồng ý kiến của đại đức Sariputta. Ðại đức Ananda có vẻ ngần ngại. Thầy nói:

- Tôi thấy có nhiều điều bất tiện nếu các sư huynh cử tôi làm thị giả cho Phật. Không chắc Phật đã bằng lòng cho tôi làm thị giả. Vì như thế có thể bị mang tiếng là ưu đãi những người trong thân tộc Sakya. Ðối với ni sư Maha-Pajapati vốn là di mẫu của người mà người cũng rất cứng rắn. Còn Rahula thì từ ngày được làm sa-di, không bao giờ được ngủ trong tịnh thất của Phật, hay ngồi ăn cơm riêng với Phật. Ðối với tôi cũng vậy, không bao giờ Phật cho tôi thân cận một cách quá đáng. Riêng phần tôi cũng ngại mang tiếng thóc mách mỗi khi có huynh đệ nào bị Phật gọi đến quở trách.

Nói tới đây, đại đức Ananda nhìn đại đức Sariputta rồi nói tiếp:

- Cũng như đối với sư huynh Sariputta. Sư huynh được Phật khen là người thông minh và tài giỏi nhất trong số các đệ tử. Sư huynh là người phụ tá rất đắc lực cho Phật trong việc dạy dỗ cũng như trong việc tổ chức. Phần nhiều các đề nghị của sư huynh đều được Phật chấp thuận. Do đó sư huynh bị một số huynh đệ ganh tị, nói xấu. Tôi ngại nếu tôi nhận làm thị giả cũng sẽ không tránh khỏi những điều đó. Tôi không muốn mất hòa khí với bất cứ huynh đệ nào.

Ðại đức Sariputta cười nói:

- Riêng tôi thì tôi không ngại bị hiểu lầm hay bị ganh tị, dĩ nhiên nếu mình tránh được thì tốt. Ðiều quan trọng hơn hết là khi nhận thấy điều gì thật sự có lợi cho đa số thì mình phải có can đảm làm và nhận lãnh trách nhiệm, dù bị ai nói xuyên tạc mình cũng không nên thối chí ngã lòng. Này sư huynh Ananda, chúng tôi biết sư huynh là người có ý tứ lắm. Nhưng nếu sư huynh không nhận làm thị giả thì đạo pháp sẽ bị thiệt thòi nhiều, chẳng những cho giáo đoàn khất sĩ hiện nay mà còn cho cả biết bao thế hệ sau này nữa.

Ðại đức Ananda im lặng suy nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Tôi đồng ý nhận làm thị giả nếu chính đức Phật bảo tôi làm, và nếu không có huynh đệ nào phản đối. Ngoài ra tôi xin đức Phật chấp thuận tám điều thỉnh nguyện sau đây:

1- Ðức Phật không ban cho tôi những bộ y do thiện tín dâng cho ngài.

2- Ðức Phật không ban cho tôi những vật thực do thiện tín cúng dường ngài.

3- Ðức Phật không cho tôi cùng ở chung trong một tịnh thất.

4- Ðức Phật không cho tôi đi theo khi ngài được thí chủ thỉnh riêng.

5- Ðức Phật sẽ hoan hỷ cùng đi với tôi khi tôi được một thí chủ mời thọ trai.

6- Ðức Phật sẽ hoan hỷ cho phép tôi được tiến dẫn những vị khách từ phương xa đến xin yết kiến ngài.

7- Ðức Phật sẽ hoan hỷ cho phép tôi đến bạch mỗi khi tôi có điều hoài nghi.

8- Ðức Phật sẽ hoan hỷ lập lại bài pháp mà ngài giảng lúc không có mặt tôi.

Ðại đức Upali góp ý:

- Những điều sư huynh Ananda đưa ra đều là chính đáng; tôi chắc những điều ấy sẽ được Phật chấp nhận. Duy có điều thứ tư tôi thấy chưa ổn. Nếu sư huynh không đi theo Phật khi ngài được mời thọ trai thì làm sao sư huynh được nghe những lời Phật dạy thí chủ để lập lại cho chúng tôi nghe? Có thể đó là những điều mới lạ mà Phật chưa bao giờ nói. Tốt hơn hết là nên có một huynh đệ khác cùng đi theo.

Ðại đức Ananda cười:

- Ðiều sư huynh Upali nói cũng chưa ổn. Trong trường hợp thí chủ chỉ đủ sức cúng dường cho hai người thôi thì sao?

- Thì hôm ấy đức Thế Tôn và hai sư huynh ăn ít lại một chút chứ sao.

Các thầy cùng cười rộ lên một cách vui vẻ. Vấn đề thị giả đã giải quyết xong, các thầy bàn tới chuyện thỉnh Phật an cư hằng năm tại Sravasti.

Sravasti hiện nay có tới hai tinh xá lớn là Jetavana (Kỳ Viên) và Pubbarama (Ðông Viên). Ngoài ra còn có một tinh xá nhỏ cho ni chúng. Lấy Sravasti làm trụ sở hành đạo trung ương cho đức Phật và giáo đoàn khất sĩ rất tiện lợi. Ở các nước lân cận, ai muốn gặp Phật mà không biết ngài ở đâu thì cứ đến Sravasti vào mùa an cư  là được gặp. Ðó là cơ hội đồng đều cho tất cả mọi người. Các vị khất sĩ và nữ khất sĩ từ các xứ lân cận có thể tới Sravasti an cư chung với đức Bổn sư không có gì trở ngại, vì các đại thí chủ như Anathapindika và Visakha đã phát nguyện cúng dường thực phẩm, thuốc men, y phục và chỗ cư trú cho bất cứ vị khất sĩ nào tới đây.

Sau khi kết thúc buổi pháp đàm, các thầy lớn cùng đi đến tịnh thất của Phật để trình bày những ý kiến của đại chúng. Ðức Phật hoan hỷ chấp thuận cả hai đề nghị trên.

 

Ðại đức Ahimsaka (Angulimala) bị hành hung[14] 

Sau mùa an cư. Một hôm, đại đức Ahimsaka đi khất thực về tới tu viện, bước đi khập khểnh, mặt mũi mình mẩy dính đầy máu. Ðại đức Svastika trông thấy liền chạy tới đỡ đại đức. Ðại đức Ahimsaka nhờ thầy đưa vào yết kiến Phật. Hôm nay trong khi đi khất thực trong thành phố, đại đức bị một nhóm người nhận diện ra đại đức chính là Angulimala. Họ đến vây quanh và tấn công đại đức bằng hèo, bằng gậy. Ahimsaka chắp hai tay trước ngực, tuyệt đối không chống trả, cũng không bỏ chạy, để cho họ tha hồ đánh đập. Một lúc sau, thấy thầy ngã quỵ xuống đất họ mới bỏ đi. Thầy cố đứng lên, lần bước tìm về tinh xá.

Thấy Ahimsaka trong tình trạng thảm thương, Phật bước đến đỡ thầy. Ðại đức Ananda vội đi lấy một thau nước và một cái khăn đem đến. Phật chính tay lau mặt và những vết thương cho Ahimsaka. Ngài bảo Svastika đi hái lá thuốc để đắp vào những vết thương, rồi xé một áo tăng-già-lê cũ lấy vải băng bó lại. Áo tăng-già-lê của thầy Ahimsaka đã rách tả tơi và lấm đầy máu và bụi đất. Bình bát của thầy đã bể nát. Ðức Phật an ủi:

- Này Ahimsaka, thầy hãy can đảm chịu đựng hậu quả của những khổ đau mà thầy đã gieo rắc từ mấy năm qua. Thầy nên nguyện rằng những đau đớn của thầy hôm nay làm vơi bớt nổi đau khổ của những người đã mất con, mất cha, mất mẹ, mất anh, mất em do thầy gây ra. Thầy hãy phát tâm đại bi, đại hỷ, đại xả để rửa sạch ác nghiệp và hận thù. Thầy nên vui vẻ nghĩ rằng hôm nay thầy đã trả được phần nào món nợ máu.

- Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Con đã vui lòng trả món nợ máu. Trả được nợ là điều đáng vui mừng. Con nguyện những đau đớn của con hôm nay làm vơi bớt những khổ đau mà con đã gây ra.

- Tốt lắm, vậy thầy hãy về am tịnh dưỡng vài ngày. Thầy Ananda sẽ tìm cho thầy một áo sangati và một bình bát khác.

Ðại đức Ahimsaka lạy tạ, lui ra.

 

Ðại đức Ahimsaka cứu giúp một sản phụ[15] 

Ðại đức Svastika dìu thầy Ahimsaka về đến am của thầy. Ahimsaka mỉm cười kể cho đại đức nghe một câu chuyện xảy ra cách đây không lâu. Một hôm, trong lúc thầy Ahimsaka sắp sửa vào thành khất thực, thầy gặp một thiếu phụ nghèo đang chuyển bụng sắp sanh dưới một cội cây bên đường, nơi vắng người. Thiếu phụ đau đớn rên la một mình mà vẫn không sinh nở được. Ðại đức xúc động la lên "Khổ quá! khổ quá!", rồi thầy chạy nhanh về báo cáo với Phật xem phải làm gì để giúp người sản phụ. Lúc bấy giờ không có một ni cô hay sư cô nào tại đó cả. Phật bảo:

- Thầy hãy đến bên người sản phụ kia và chú nguyện như vầy "Này cô, từ ngày sinh ra cho đến nay tôi chưa từng cố ý phạm đến sinh mạng của một loài nào. Nguyện rằng nhờ sự thật ấy mà cô sinh cháu được bình an."

- Bạch Thế Tôn, không thể được, như vậy là con nói dối. Con đã phạm đến sinh mạng của nhiều người rồi!

- Nếu vậy thì thầy nói "Này cô, từ ngày tôi được sinh ra trong giáo pháp giác ngộ, tôi chưa bao giờ cố ý phạm đến sinh mạng của một loài nào. Nguyện rằng nhờ sự thực ấy mà cô sinh cháu được bình an."

Thầy Ahimsaka lập tức chạy đến nơi thiếu phụ chuyển bụng đang rên la. Thầy đứng ẩn mình sau cội cây và lập lại đúng theo lời Phật chỉ dạy. Vài phút sau, thiếu phụ sinh được em bé bình an. Thầy bèn đi tìm gọi người đến tiếp cứu.

Sau khi bị hành hung, thầy Ahimsaka nằm im lìm trên giường tịnh dưỡng, đến ngày thứ ba thầy mở mắt ra nhìn thầy Ananda đang ngồi bên cạnh, mỉm cười nói:

- Này sư huynh Ananda, tôi đã gây nhiều tội ác phải sa điạ ngục, may nhờ đức Thế Tôn từ bi cứu vớt. Hôm nay, nợ nần đã trả xong, tôi an hưởng quả lành.

Nói xong, thầy Ahimsaka nhắm mắt lại, nhập niết-bàn liền sau đó. Ðức Phật được báo tin, nói kệ:

Người đã gây nghiệp ác

Biết phục thiện tu hành

Như trăng rằm không mây

Soi sáng cả thế gian. (Kinh Pháp Cú, bài 173)

 

 

I- TỪ hẠ thỨ 21 ÐẾn hẠ thỨ 43

Chánh Pháp đã được truyền bá khắp lưu vực sông Ganga (sông Hằng). Giới luật và Giáo pháp căn bản (Tứ Diệu Ðế, 12 Nhân Duyên) đã được giảng dạy khá đầy đủ. Bây giờ đến giai đoạn đức Phật bắt đầu giảng phần giáo lý cao siêu như tánh bình đẳng của các pháp (lý Kim-cang), tánh không của các pháp (lý Bát-nhã), tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng thành Phật (lý Pháp-hoa). Ðây là giai đoạn cực thịnh của Phật pháp.

 

1- Hạ thứ  21 tại Jetavana (năm -569)

 

Vua Pasenadi kết thân với vua Mahanama[16] 

Tháng tư năm 569 trước tây lịch, đức Phật từ Vesali đi về Sravasti theo lời thỉnh cầu của ông Sudatta Anathapindika. Năm nay Phật và vua Pasenadi đều được 55 tuổi. Ðược tin Phật về an cư tại Jetavana, nhà vua mừng rỡ, đem cả gia đình hoàng tộc đến thăm Phật. Ði theo vua có cả thứ hậu Visabhaksatriya (Vasabhakhattiya) và hai người con của thứ hậu là hoàng tử Virudhaka (Vidudabha) và công chúa Vajna. Vào hạ thứ 14, sau khi nghe Phật nói các vị khất sĩ không chịu đến đền vua thọ trai là vì thiếu tin tưởng nơi nhà vua, vua Pasenadi vốn biết rằng vương quốc Sakya vẫn xem vương quốc Kosala là một đe dọa cho nền độc lập xứ Sakya, nên đã gởi sứ thần qua xứ Sakya xin cưới một công nương trong hoàng tộc làm thứ hậu. Sau khi bàn luận với triều thần, vua Mahanama liền dùng con gái của mình với một người tỳ nữ, tên là Visabhaksatriya để gả cho vua Pasenadi.

Trong suốt mùa an cư, vua Pasenadi không bỏ sót một buổi thuyết pháp nào của Phật mà không đến nghe.

 

Bà Kisa-Gotami tìm xin hột cải để cứu con[17] 

Bà Kisa-Gotami[18] ở Sravasti vừa sanh được một đứa con trai đầu lòng. Chẳng may khi đứa bé vừa biết đi chập chững và bập bẹ nói chuyện rất dễ thương thì lâm bạo bệnh qua đời. Bà không chịu tin là con mình đã chết. Bà không cho người ta mang xác con bà ra nghĩa địa. Bà ôm xác đứa con yêu quí vào lòng, đi từ nhà này sang nhà khác như người mất trí, tìm xin thuốc để cứu con. Nhưng cả những lương y tài giỏi không ai có thể cứu được đứa bé đã chết. Có người thấy thế thương hại, chỉ bà hãy đến gặp Phật ở tinh xá Jetavana họa may có thể cứu được. Bà lật đật bồng con chạy đến Jetavana, đảnh lễ Phật rồi vừa khóc vừa nói:

- Bạch Thế Tôn, xin ngài từ bi bang thuốc để cứu con của con. Nhiều người nói chỉ có ngài mới có thể cứu được nó. Xin ngài rũ lòng thương chúng con.

- Này Kisa-Gotami, đừng buồn khổ nữa! Bà hãy mau mau tìm về đây cho Như Lai một nhúm hột cải trắng xin ở bất cứ nhà nào trong thành Sravasti này để Như Lai cứu con bà. Nhưng bà nên nhớ là phải xin hột cải ấy ở gia đình nào chưa bao giờ có người chết thì mới hiệu nghiệm.

Bà Kisa-Gotami hết sức vui mừng, vội bế con chạy từ nhà này sang nhà khác tìm xin hột cải trắng. Hột cải trắng thì hầu như nhà nào cũng có, nhưng khắp thành Sravasti không có gia đình nào là không có người chết, hoặc con cái, hoặc cha mẹ, hoặc ông bà. Tính ra số người chết nhiều hơn số người sống gấp bội.

Trời đã về chiều,  những tia nắng cuối cùng như xóa tan niềm hy vọng còn lại của bà Kisa-Gotami. Xác đứa con yêu quý trong tay bà bắt đầu lạnh dần, lạnh dần và cứng đơ, nét mặt không còn một chút thần sắc nào của sự sống. Trong nỗi đau khổ cùng cực, bà bắt đầu nhận ra chân lý phủ phàng của sự sống và cái chết. Bà than thầm:‘’ Ðây không phải là luật lệ của xóm làng,

‘’ Cũng không phải là luật lệ của thành phố.

‘’ Ðây không phải là luật lệ riêng của gia đình nào cả

‘’ Mà là định luật chung cho toàn cõi thế gian:

‘’ Tất cả đều vô thường, hể có sanh thì có diệt.[19]

Bà ngậm ngùi mang xác con về nhà, dùng một chiếc sari quấn kín lại, cùng chồng mang ra bãi tha ma. Rồi bà đến trước Phật sục sùi nói:

- Bạch Thế Tôn, con không thể tìm đâu ra một nhà có hột cải trắng mà không có người chết! Con đành lìa bỏ đứa con yêu quý không còn cười, không còn nói, không còn đưa hai bàn tay bé nhỏ sờ mặt con như trước. Con đành dùng chiếc sari quý nhất của con quấn kín thân xác nó lại, đặt dưới một lùm cây, bên cạnh bờ suối. Con cúi xin Thế Tôn vui lòng chỉ cho con nơi nào có thể xin hột cải trắng mà không có bóng dáng tử thần.

- Này Kisa-Gotami, bà đã tìm ra cái mà ít ai tìm thấy. Ðó là niềm an ủi trong sự thật đắng cay: Tình thương bám chặt vào cha mẹ, vợ chồng, con cái, gia súc tuy ngọt ngào hôm nay, nhưng ngày mai cái chết tràn đến như một trận thủy tai trong đêm tối, càn quét cuốn đi trọn cả làng đang ngon giấc.[20]

Rồi đức Phật giảng cho bà nghe về Vô thường và Tứ đế. Nghe xong bà đắc quả Tu-đà-hoàn. Bà xin được xuất gia. Ít lâu sau bà đắc quả A-la-hán.

 

Quán thân người như bong bóng nước[21] 

Một nhóm khất sĩ được Phật ban cho đề tài thiền quán, rút vào rừng vắng chuyên tâm thực hành. Nhưng sau vài tháng tu tập nhận thấy không đạt được kết quả nào, các vị ấy bàn với nhau nên trở về tinh xá Jetavana gặp Phật. Vừa đến cổng tinh xá thì có một trận mưa to đổ xuống. Trong khi đứng đụt mưa, các vị khất sĩ nhìn những giọt mưa rơi xuống nước làm bọt nước nổi lên trên mặt nước rồi trong chốc lát vỡ tan. Có bọt vừa thành hình bỗng vỡ tan liền sau đó, có bọt trôi trên mặt nước vài phân, vài tấc hoặc vài thước rồi mới vỡ. Các vị khất sĩ bỗng nghĩ đến thân người cũng như bọt nước. Nhờ đã quen thực hành chỉ quán nên các vị khất sĩ tự nhiên đi sâu vào đề tài thiền quán đó: Thân người như bọt nước, thấy đó rồi mất đó, sanh đó rồi diệt đó, cái gì sanh cái gì diệt? cái gì còn cái gì mất? thế gian này cũng thế, sanh trụ dị diệt, để làm gì? có nghĩa lý gì không? ... Các vị khất sĩ chợt nhận thức được ý nghĩa sâu xa của vô thường, vô ngã và duyên sanh.

Sau khi mưa tạnh, các vị khất sĩ vào yết kiến Phật, trình bày cảm nghĩ và chứng nghiệm của mình. Ðức Phật liền nói kệ:

Nên quán chiếu thế gian

Như mộng tưởng, bọt nước.

Người nhìn đời như thế

Không bao giờ sợ chết. (Kinh Pháp Cú, bài 170)

Nghe xong, các vị khất sĩ liền chứng quả A-la-hán.

 

2- Hạ thứ 22 tại Jetavana và Pubbarama (năm -568)

 

Phật nói kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana-sutta)[22] 

Mùa xuân năm sau,  568 trước tây lịch, tại thủ đô Kammassadhamma xứ Kuru, cách Sravasti khoảng 300 km về phía tây, đức Phật nói kinh Tứ Niệm Xứ cho trên 300 khất sĩ và một số đông thính chúng địa phương. Ðây là một kinh rất quan trọng về phương pháp tu tập thiền quán (Vipassana). Phật nói phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu được thân tâm thanh tịnh, vượt qua mọi sầu khổ, thành tựu trí huệ và đạt giải thoát. Tứ niệm xứ là bốn đề tài cần được quán tưởng tỉ-mỉ và ghi nhớ rành rẽ. Bốn đề tài đó là:

1- Thân bất tịnh: Thân thể con người rất dơ bẩn, không có gì đáng quý trọng, gìn giữ.

2- Thọ là khổ: Tất cả những cảm giác thích thú, khó chịu hay trung tính của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý cuối cùng đều mang đến vọng tưởng, cố chấp và buồn khổ. Thọ nhận một vật gì làm của mình cũng đều mang đến cho mình sự lo âu, buồn khổ.

3- Tâm vô thường: Tâm tính của con người rất bất thường, khi vui, khi buồn, khi ghét, khi thương, khi hòa, khi giận, không có gì trường cửu để gọi là cái "ta" (ngã) bất sanh bất diệt.

4- Pháp vô ngã: Muôn sự muôn vật trên thế gian này đều biến đổi vô chừng trong các chu kỳ "thành, trụ, hoại, không", không có gì là chắc thật để gọi là "bản thể" (ngã) bất sanh bất diệt của nó.

Trong lãnh vực thân thể, hành giả quán niệm ba giai đoạn của hơi thở mình (ra, vào, ngưng). Ví dụ như lúc thở ra, hành giả tự hỏi: cái gì làm cho mình thở ra, mạnh hay nhẹ, dài hay ngắn, hơi đi ra được chừng bao nhiêu, cái gì làm ngưng hơi thở ra ... Hành giả quán niệm bốn tư thế (đi, đứng, nằm, ngồi) và tất cả các động tác của cơ thể; cái gì làm phát sanh những động tác ấy, mỗi động tác phát khởi, diễn tiến và chấm dứt như thế nào. Phải luôn luôn chú ý giữ đúng uy nghi trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi. Hành giả quán niệm về nhịp tim, mạch máu nhảy, sự tuần hoàn của máu trong cơ thể. Hành giả quán niệm về bộ phận tiêu hóa, từ lúc thức ăn được đưa vào miệng, đến lúc bài tiết ra ngoài. Hành giả quán niệm về 32 thành phần của cơ thể (dvattinsakarapatha) là tóc, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, màn phổi, lá lách, phổi, ruột, màn ruột, dạ dày, phẩn, mật, da trong, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mao dịch, nước miếng, chất nhờn (như đàm, mũi), chất nhớt (ở các khớp xương), nước tiểu và bộ óc. Hành giả quán tưởng về chín giai đoạn tàn hoại của cơ thể từ lúc mới chết đến khi cơ thể tiêu tan[23]. Công phu quán niệm về thân thể không phải chỉ được thực hiện lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng thân thể là duyên hợp, giả tạm, vô thường, nhơ bẩn, không có thực thể, đến khi tàn hoại sẽ trở về không.

Trong lãnh vực cảm giác (thọ), hành giả quán niệm về sự phát sanh của cảm giác. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần như thế nào mà sanh ra sáu thức. Rồi trong sáu thức làm sao lại có những cảm giác dễ chịu (lạc thọ), những cảm giác khó chịu (khổ thọ), những cảm giác trung tính (không dễ chịu cũng không khó chịu). Những cảm giác dễ chịu và khó chịu đó phát sanh như thế nào, diễn tiến như thế nào và chấm dứt như thế nào. Làm thế nào để không bao giờ có cảm giác khó chịu. Công phu quán niệm về cảm giác không phải chỉ được thực hiện trong lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Chữ "thọ" còn có nghĩa là nhận lãnh một vật làm sở hữu của mình. Hành giả quán sát xem vật sở hữu có mang đến cho mình cái khổ nào không. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng cảm giác và vật sở hữu nào cũng mang đến cho ta cái khổ không nhiều thì ít. Những cái vui tạm bợ mà cảm giác và vật sở hữu mang đến cho ta, sớm muộn gì cũng bị tàn phai.

Trong lãnh vực tâm ý, hành giả quán niệm về những hiện tượng tâm lý[24] phát sanh, diễn tiến và chấm dứt như thế nào. Ví dụ như tánh tham lam, tánh sân hận, tình thương, ái dục, ... phát sanh như thế nào, diễn tiến như thế nào và chấm dứt như thế nào. Những hiện tượng tâm lý đó mang đến những trạng thái tâm lý khổ vui như thế nào. Làm thế nào để chỉ có vui mà không có khổ. Công phu quán niệm tâm ý không phải chỉ được thực hiện trong lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng tâm ý ta thường biến chuyển thay đổi luôn tùy theo nhân duyên mỗi thời, không có thực thể, không có gì có thể gọi là cái "ta" trường cửu.

Trong lãnh vực các sự vật (pháp) ở thế gian, hành giả quán niệm về các giai đoạn phát sanh, biến chuyển và hoại diệt của từng sự vật hữu hình cũng như vô hình. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng tất cả sự vật ở thế gian đều  do duyên hợp, đều vô thường, biến chuyển không ngừng, rốt cuộc cũng đều đi đến hoại diệt.

Khi đã quán niệm thuần thục bốn đề tài "thân bất tịnh", "thọ là khổ", "tâm vô thường", "pháp vô ngã", hành giả sẽ không còn tham sống sợ chết, không còn ham muốn danh lợi tài sản thế gian, không còn đắm nhiễm các thú vui thế tục, sẵn sàng vui vẻ lìa bỏ tất cả, hành giả liền đắc sơ thiền[25], được thân tâm nhẹ nhàng thư thái, nhập vào dòng thánh.

Phật chỉ dạy cặn kẽ từng phép quán niệm trong cả bốn lãnh vực. Ngài bảo người nào tinh tấn hành trì phép quán Tứ Niệm Xứ trong vòng bảy năm chắc chắn sẽ đạt được nhiều tiến bộ trên đường giải thoát. Những người có thiện căn, có trí tuệ, hành trì phép quán này có thể vào dòng giải thoát trong vòng bảy tháng hoặc bảy ngày.

Qua hôm sau, sau khi thượng tọa Ananda trùng tuyên lời dạy của đức Phật, Thượng tọa Assaji cho biết đức Phật đã giảng về Tứ Niệm Xứ nhiều lần rồi, nhưng đây là lần đầu tiên ngài tổng hợp và đúc kết thành một bài pháp gọn ghẽ, đầy đủ và khúc triết nhất. Ðại đức Sariputta nói kinh Tứ Niệm Xứ rất là quý báu và quan trọng, các vị khất sĩ nên học thuộc lòng để thực hành hằng ngày.

 

Cô Sundari bị giết chôn tại tinh xá Jetavana để vu cáo Phật[26] 

Ở Sravasti, uy tín Phật càng ngày càng lên cao, danh tiếng Phật càng ngày càng vang xa, mọi người đổ xô đến tinh xá Jetavana cúng dường và nghe pháp. Ngoại đạo cảm thấy uy tín và quyền lợi của họ càng ngày càng sa sút, họp nhau lại bàn tính tìm biện pháp cứu vãn tình thế. Họ nói với nhau:

- Từ ngày sa-môn Gotama xuất hiện tại Rajagriha và tại Sravasti là hai thành phố lớn hiện nay, uy tín và quyền lợi của chúng ta càng ngày càng sút giảm. Dân chúng hầu như quên sự có mặt của chúng ta tại hai nơi này. Chúng ta phải tìm cách triệt hạ uy tín của sa-môn Gotama mới được.

- Ðúng vậy. Chúng ta hãy bàn vụ này với nữ du sĩ Sundari, cô ta vừa thông minh vừa có sắc đẹp vô cùng quyến rũ. Cô ấy có thể giúp chúng ta thành công trong vụ này.

Rồi họ mời cô Sundari đến họp, thảo luận kế hoạch làm cho dân chúng nghi ngờ đức Phật có dan díu với cô Sundari. Khi thấy dân chúng bắt đầu xầm xì bàn tán với nhau về việc này, ngoại đạo quyết hạ độc thủ. Họ thuê hai tên du đảng giết cô Sundari rồi đem vùi xác cô vào đống rác hoa héo gần am Phật trong tinh xá Jetavana. Xong rồi họ giả bộ cho người đi tìm kiếm cô Sundari khắp nơi, vừa loan báo là cô Sundari đã bị mất tích. Họ xin yết kiến vua Pasenadi và nói:

- Tâu Ðại Vương, gần đây cô Sundari thường hay đến Jetavana nghe pháp, nhiều khi cô ta ở lại đến khuya. Từ sáng nay chúng tôi cho người đi kiếm cô ấy khắp nơi không thấy. Vậy xin phép Ðại vương cho chúng tôi vào tìm trong khu vực Jetavana.

Ðược vua cho phép, họ vào Jetavana lục soát và tìm thấy xác cô Sundari chôn vùi trong đống rác hoa héo gần am của Phật. Họ liền loan báo cho mọi người biết và tuyên truyền như sau:

- Gần đây có tiếng đồn sa-môn Gotama dan díu với cô Sundari, có lẽ đệ tử của sa-môn Gotama muốn giết cô Sundari để bịt miệng thế gian.

Dân chúng tưởng thật cũng đồng thanh lên án các vị khất sĩ, cho rằng chính các vị khất sĩ đã giết cô Sundari. Các vị khất sĩ báo tin này cho Phật hay, Phật nói:

- Vậy các thầy có phản đối họ không?

Rồi đức Phật nói kệ:

Ai tuyên truyền giả dối:

Chuyện không bảo là có,

Có làm bảo không làm,

Cả hai sau khi chết

Ðều sanh vào điạ ngục

Ðền trả ác nghiệp này. (Kinh Pháp Cú, bài 306)

Vua Pasenadi rất tin tưởng Phật, không tin lời phao vu của ngoại đạo, liền cho người ngầm đi điều tra. Chỉ vài ngày sau, hai tên du đảng giết cô Sundari đều bị bắt với đầy đủ tang chứng, khi họ đến quán rượu chia nhau tiền thưởng, ăn nhậu say sưa rồi cãi cọ gây gổ với nhau. Sau khi bị bắt vào đền vua, họ khai tên những người lãnh đạo tôn giáo đã thuê họ làm việc này. Vua Pasenadi bắt phạt những tên ngoại đạo này phải đi khắp thủ đô Sravasti nói lớn:

- Chính chúng tôi đã thuê người giết cô Sundari để vu oan cho sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama và các đệ tử của ông không có lỗi gì cả.

Vua Pasenadi đến tinh xá Jetavana thăm Phật, mừng cho Phật và giáo đoàn vừa thoát nạn. Ðức Phật cám ơn vua Pasenadi, và nói:

- Ðại vương, ganh tị và hận thù là hai con rắn độc có thể cắn chết người mà cũng có thể cắn chết chính mình. Người tu cần phải tận diệt ganh tị và hận thù trong tâm mình. Xin Ðại vương hãy khuyến dụ và giảm tội cho các phạm nhân.

Chỉ trong vòng hai hôm sau, dân chúng trong thủ đô đã biết được sự thật về âm mưu của ngoại đạo. Uy tín của Phật và giáo đoàn khất sĩ càng lên cao.

 

Ðức Phật chăm sóc một khất sĩ mắc bệnh kiết[27] 

Một hôm Ðức Phật cùng với Thượng tọa Ananda đi viếng các nơi trú ngụ của các vị khất sĩ trong tinh xá Jetavana. Vừa đến gần một am nhỏ thì có mùi hôi thúi xông ra rất khó chịu. Ðức Phật và Thượng tọa Ananda vừa bước vào thì thấy một vị khất sĩ thân hình tiều tụy đang nằm rên, mình dính đầy phẩn lỏng hôi thúi. Ðức Phật bước đến bên cạnh hỏi:

- Thầy mắc bệnh gì thế? Ðã bao lâu rồi?

- Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ đã 2-3 ngày rồi mà không bớt.

- Vậy có ai chăm sóc thuốc men gì cho thầy không?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Sao vậy? Không có thầy nào chăm sóc cho thầy sao?

- Bạch Thế Tôn, các thầy đều phải đi khất thực cả. Mãy hôm trước con còn tự đi ra ngoài rửa ráy một mình được, nhưng hôm nay con dậy không nổi.

Phật bảo Thượng tọa Ananda đi lấy nước. Hai thầy trò tắm rửa và mặc áo sạch cho vị khất sĩ. Rồi hai người đặt thầy lên giường. Phật và thầy Ananda quét rửa trong am cho hết mùi hôi hám và đem quần áo ra giặt phơi.

Chiều hôm ấy, trong phiên họp tại giảng đường, đức Phật hỏi:

- Này các thầy, các thầy có biết có một thầy đang bệnh nặng nằm trong am đàng kia không?

- Bạch Thế Tôn, chúng con có biết.

- Thầy ấy bệnh nặng như thế, sao hôm nay không có ai ở lại bên cạnh để chăm sóc cho thầy ấy?

- Bạch Thế Tôn, chúng con đều phải đi khất thực cả.

- Này các vị khất sĩ, chúng ta đã xuất gia, không còn cha mẹ vợ con chăm sóc cho chúng ta như khi còn tại gia nữa. Nếu chúng ta không chăm sóc cho nhau thì ai sẽ chăm sóc cho chúng ta? Mỗi khi có ai bị đau ốm, dù người ấy là thầy, bạn hay học trò thì chúng ta cũng phải chăm sóc tận tình cho đến khi người ấy bình phục hoàn toàn. Này các thầy, nếu Như Lai đau ốm thì các thầy có tận tình chăm sóc cho Như Lai không?

- Bạch Thế Tôn, chắc chắn chúng con sẽ tận tình chăm sóc cho Thế Tôn.

- Vậy thì từ nay, mỗi khi có vị khất sĩ nào mắc bệnh, các thầy cũng nên thay phiên nhau chăm sóc cho vị ấy như chăm sóc cho chính Như Lai vậy.

Các vị khất sĩ có mặt đều chắp tay cúi đầu, cung kính vâng lời Phật dạy.

 

Các ni-sư Maha-Pajapati, Khema và Dhammadinna 

Mùa an cư thứ 22 vào năm 568 trước tây lịch, Phật nhập hạ tại Sravasti, ngài thường thuyết pháp tại tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) và tinh xá Pubbarama (Ðông Viên). Ni sư Maha Pajapati lãnh đạo đông đảo ni chúng an cư tại ni viện gần đó. Phụ tá ni sư Maha Pajapati có ni sư Khema. Ni sư Khema[28] vốn là một quý phi của vua Bimbisara xứ Magadha. Bà là người rất thông minh nhưng có tánh kiêu hảnh về sắc đẹp của mình. Vào hạ thứ hai, vua Bimbisara đã đưa bà đến nghe Phật thuyết pháp tại Venuvana. Nhờ Phật độ bà tỉnh ngộ và xin quy y Tam Bảo. Sau bốn năm tu học với tính cách cư sĩ tại gia, bà đã xin xuất gia và gia nhập ni chúng do ni sư Pajapati lãnh đạo. Bà tu học rất tinh tấn, chỉ vài năm sau bà đã trở nên một trong những vị lãnh đạo quan trọng của ni chúng. Nữ cư sĩ Visakha thường cùng các con đến cúng dường và nghe pháp tại ni viện. Do đó bà biết rõ cuộc đời các nữ khất sĩ Khema, Dhammadinna, Bhadda Kapilani, Uppalavanna và Patacara.

Ni sư Dhammadinna[29] là một trong những vị giảng sư nổi tiếng nhất của ni viện. Lúc chưa xuất gia, bà ở Rajagriha. Ông Visakha, chồng bà, là một cư sĩ thuần thành thường đến Venuvana nghe Phật thuyết pháp. Ông ngộ đạo và đắc quả A-na-hàm. Một hôm, ông Visakha nghe pháp xong, về nhà bảo bà:

- Này Dhammadinna, tất cả gia sản này tôi giao lại hết cho bà. Bà hãy giữ lấy để lo cho các con. Tôi đi xuất gia theo Phật.

- Ông muốn giao gánh nặng này cho tôi à!? Một mình tôi không kham nổi đâu. Thôi, ông ở nhà đi, để tôi đi xuất gia. Nghe nói Phật đã cho phép nữ giới xuất gia, tôi cũng muốn được xuất gia lắm.

- Ðược, bà muốn đi xuất gia cũng tốt.

Dhammadinna xin xuất gia, ít lâu sau đắc quả A-la-hán. Sư cô trở về Rajagriha để độ ông Visakha. Nghe tin sư cô về đến Rajagriha, ông Visakha đến ni viện thăm và hỏi thử xem sư cô đã tu tiến đến đâu. Ông đến nơi, đảnh lễ sư cô, ngồi xuống một bên, rồi hỏi sư cô về cách tu chứng quả Tu-đà-hoàn. Sư cô đáp đúng những điều như ông đã biết. Ông hỏi về cách tu chứng quả Tư-đà-hàm. Sư cô cũng đáp đúng những điều như ông đã biết. Ông hỏi về cách tu chứng quả A-na-hàm. Sư cô cũng đáp đúng những điều như ông đã biết. Ông lại hỏi về cách tu chứng quả A-la-hán. Sư cô đáp:

- Này đạo hữu, ông khá lắm. Nhưng nếu ông muốn biết về cách tu chứng quả vị A-la-hán thì ông nên đến hỏi đức Thế Tôn, ngài sẽ giảng nghĩa cho ông rõ ràng hơn.

Ông Visakha đến gặp Phật, kể lại câu chuyện giữa ông và sư cô Dhammadinna. Phật bảo:

- Này đạo hữu Visakha, sư cô Dhammadinna đã trả lời rất đúng những câu hỏi của ông. Nếu ông hỏi Như Lai thì Như Lai cũng sẽ trả lời như thế thôi.

Rồi đức Phật nói kệ:

Ba đời đều trong sạch:

Hiện tại, không có gì

Quá khứ, không có gì

Tương lai, không có gì

Không có, cũng không muốn

Chính là A-la-hán. (Kinh Pháp Cú, bài 421)

Bên cạnh ni sư Dhammadinna còn có ni sư Bhadda Kapilani cũng rất nổi tiếng về thuyết pháp hay. Hai vị này thường được các giới cư sĩ thỉnh đến thuyết pháp tại nhiều địa điểm trong xứ Kosala.

 

Cuộc đời đau khổ của ni-sư Patacara[30] 

Patacara[31] là con gái một nhà giàu có ở Sravasti. Cha mẹ cô Patacara giữ con gái kỹ lắm, không bao giờ cho ra khỏi nhà. Ðến tuổi dậy thì cô đem lòng thương một người con trai giúp việc trong nhà. Cha mẹ cô hoàn toàn không hay biết gì cả. Họ sắp đặt để gả cô cho một chàng trai, con nhà phú hộ khác. Hoảng kinh, cô bàn tính với người yêu bỏ nhà trốn đi. Gần đến ngày cưới, cô hóa trang làm con ở đi gánh nước và thoát ra khỏi nhà. Cô hẹn với người yêu gặp nhau tại bến đò, rồi hai người trốn đi thật xa. Ăn ở với nhau được ba năm thì cô có thai. Gần đến ngày sanh, cô đòi chồng đưa cô về nhà cha mẹ để sanh, theo phong tục thời bấy giờ. Chồng cô sợ ông bà phú hộ lắm, nhưng vì thương vợ bất đắc dĩ phải chìu ý đưa đi. Nhưng khi đi đến nửa đường thì cô chuyển bụng sinh được một bé trai kháu khỉnh. Việc trở về nhà cha mẹ vì thế không còn cần thiết nữa. Hai vợ chồng liền quay về nơi sinh sống cũ.

Hai năm sau, cô lại có thai. Và lần này cô lại muốn về quê sinh đẻ. Giữa đường gặp một trận mưa bão lớn, cô lại chuyển bụng. Người chồng bảo vợ tạm ẩn mưa bên đường để anh vào rừng đốn cây bẻ lá che tạm một túp lều. Patacara đợi mãi không thấy chồng trở lại. Nữa đêm cô sinh ra một bé trai trong lúc trời vẫn còn mưa gió. Sáng hôm sau, khi bão tạnh, Patacara tay ôm đứa bé sơ sinh, tay dắt đứa bé chưa đầy ba tuổi, đi vào rừng tìm chồng. Cô thấy chồng cô nằm chết trong rừng, bị rắn độc cắn vào chân bầm tím. Patacara khóc than thảm thiết. Cô dùng một khúc gỗ đào đất chôn chồng, rồi tay bồng tay dắt con ra đi, tìm về nhà cha mẹ. Cô đi mãi cho đến khi gặp dòng sông Aciravati. Mực nước sông lên cao vì mưa gió đã kéo dài mấy ngày đêm. Không biết làm sao, cô dặn đứa con ba tuổi đứng chờ cô bên này sông để cô ẵm đứa bé mới sanh sang bên kia sông trước. Hai tay cô nâng đứa bé lên khỏi đầu, lội qua sông. Tới giữa dòng, một con chim ưng to lớn sà xuống, cắp đứa bé bay đi. Hoảng hốt, Patacara la lớn cho con chim ưng sợ mà buông đứa bé xuống. Không ngờ đứa bé ba tuổi đang đứng chờ trên bờ, tưởng mẹ gọi mình, liền chạy xuống nước tìm đến mẹ. Khi con chim ưng cắp đứa bé bay xa rồi, Patacara ngoái nhìn lại bờ sông thì thấy đứa con trai ba tuổi của cô đã lội xuống nước. Hoảng kinh, Patacara la lên và cố lội nhanh vào bờ để cứu con. Nhưng chậm mất rồi, đứa bé đã bị dòng nước cuốn đi mất.

Vào đến bờ, Patacara kiệt sức. Cô không còn khóc được nữa. Cô nằm trên bờ sông lâu lắm mới lấy lại được chút sức lực. Rồi cô tìm đường lần hồi về Sravasti. Tới Sravasti, cô được tin ngôi nhà của cha mẹ cô đã bị trận bão vừa qua làm xập nát, cả cha mẹ cô lẫn đứa em trai đều bị sườn nhà đè chết. Cô lật đật chạy đến nơi hỏa thiêu cha mẹ cô thì giàn hỏa cũng vừa tàn.

Patacara ngã quỵ bên lề đường. Cô không còn muốn sống nữa. Chưa bao giờ mà nhiều biến cố đau khổ dồn dập đến một người đàn bà nhanh như thế. Những người qua đường ghé lại thăm hỏi và đưa cô về tinh xá Jetavana gặp Phật. Phật nhờ các vị nữ cư sĩ đưa Patacara đi tắm rửa và thay y phục. Rồi ngài ngồi chăm chỉ nghe Patacara kể lại chuyện mình. Ðức Phật an ủi:

- Này Patacara, con đã gặp nhiều tai nạn và rủi ro dồn dập đến. Nhưng cuộc đời không phải chỉ có khổ đau và tai nạn. Những việc đã qua con không nên nghĩ tới để sầu khổ nữa làm chi. Con nên nghĩ tới hiện tại, hôm nay và vào giờ phút này con nên làm gì để mang lại hạnh phúc cho con, cho cha mẹ và chồng con của con đã qua đời, cho những người xung quanh con. Con hãy học cách sống đời cao thượng để tự lợi lợi tha. Con sẽ thấy cuộc đời còn có nhiều ý nghĩa, con còn nhiều việc phải làm để tạo an lạc cho con, cho mọi người, trong hiện tại và tương lai.

Patacara lạy Phật xin xuất gia. Phật nói với ni sư Maha Pajapati cho người đưa Patacara về ni viện. Sau một thời gian tập sự, Patacara được thọ giới nữ khất sĩ. Patacara được ni trưởng và các ni sư thương yêu lắm. Sau mấy năm tu học, Patacara đã tìm lại được nụ cười. Một hôm, trong khi múc nước rửa chân, thấy những dòng nước theo hai chân chảy xuống và thấm vào lòng đất, nữ khất sĩ Patacara bỗng phát tâm quán thủy đại, ngộ được lý vô thường. Suốt mấy ngày liền, ni cô thực tập thiền quán bằng hình ảnh ấy. Một buổi sáng nọ, Patacara chứng nghiệm được nguyên tắc sinh diệt của vạn vật. Ni cô đọc lên mấy vần thơ sau đây: 

"Hôm nọ đang rửa chân

"Tôi thấy dòng nước chảy

"Thấm sâu vào lòng đất

"Tôi hỏi: nước về đâu?

 

"Thiền quán trong tĩnh lặng

"Tôi nắm giữ sáu căn

"Như kềm con tuấn mã

"Tôi quán sát sáu trần

 

"Ngồi nhìn ngọn đèn dầu

"Tôi đi vào phép quán

"Thời khắc trôi qua mau

"Lửa đèn còn chiếu sáng

 

"Lấy cây tăm khêu bấc

"Tôi dìm bấc xuống dầu

"Ánh đèn bỗng phụt tắt

"Tất cả chìm đêm thâu

 

"Ngọn lửa về niết-bàn

"Nhưng hồn tôi chợt sáng

"Tâm được cởi trói rồi

"Ánh mai vừa tỏ rạng. 

Chiều hôm ấy, ni cô Patacara trình lên ni sư Pajapati bài thơ ấy, được ni sư rất ngợi khen.

 

Phật thuyết kinh Quán Niệm Hơi Thở[32] (Anapana-sati) 

Thỉnh thoảng Phật hoặc các vị đệ tử lớn lại tới viếng thăm và nói pháp tại ni viện. Mỗi tháng một lần, các vị nữ khất sĩ cũng được tới nghe pháp ở tinh xá Jetavana hoặc Pubbarama. Năm nay, theo lời yêu cầu của Thượng tọa Sariputta, Phật cho kéo dài mùa an cư thêm một tháng. Lễ tự tứ sẽ được cử hành vào ngày trăng tròn tháng Kattika (tháng 11 dl) thay vì vào ngày trăng tròn tháng Assayuja (tháng 10 dl) như mọi năm. Mục đích là để các vị khất sĩ, sau khi mãn hạ ở các trung tâm tu học thuộc vùng lân cận Sravasti có thể về Jetavana gặp Phật.

Tin Phật sẽ kéo dài mùa an cư năm nay tại Jetavana thêm một tháng được loan đi rất nhanh. Do đó, sau lễ tự tứ, các thầy và các ni cô từ các địa phương khác lục tục tìm về thăm Phật rất đông. Các vị thí chủ lớn như Sudatta, Visakha và hoàng hậu Mallika đã tìm mọi cách để cung cấp phương tiện cư trú và thực phẩm cho các vị tu sĩ từ các nơi tựu về. Vào cuối tháng Kattika (11 dl), số lượng các vị khất sĩ và nữ khất sĩ tại thủ đô Sravasti lên tới ba ngàn người.

Vào đêm trăng tròn tháng Assayuja, hoa sen trắng Kumudi nở rộ dưới hồ, hương sen thoang thoảng tỏa khắp tinh xá Jetavana. Phật ngồi trên một tòa cao giữa trời, mở lời khen ngợi đại chúng đã tinh tấn tu học trong suốt mùa an cư vừa qua và rất xứng đáng được thêm một tuổi hạ. Rồi nhân cơ hội này, Phật nói kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapana-sati).

Ðúng ra thì vị khất sĩ nào cũng đã được học về phép quán niệm hơi thở. Nhưng đây là lần đầu tiên mà đa số các vị khất sĩ có mặt được trực tiếp nghe Phật giảng về phép quán niệm hơi thở. Ðây cũng là lần đầu Phật tổng hợp những điều đã giảng về pháp môn này và đúc kết lại trong một thời giảng.

Có mặt trong buổi pháp thoại hôm nay có cả ni sư Yasodhara, mẹ của đại đức Rahula, và ni sư Sundari Nanda, chủng tử của sư trưởng Pajapati Gotami. Sáu tháng sau khi hoàng hậu Pajapati Gotami xuất gia, Yasodhara và Sundari Nanda cũng xin xuất gia và tu học tại một ni viện miền ngoại ô phía bắc thành Kapilavastu. Ni viện này cũng đã do ni sư Gotami sáng lập. Chỉ trong vòng một năm, sư cô Yasodhara đã trở nên một phụ tá đắc lực cho ni sư Gotami. Bắt đầu mùa hạ năm nay, hằng năm ni chúng ở Kapilavastu đều về nhập hạ tại Sravasti để được thừa hưởng sự giáo huấn của Phật và các vị đệ tử lớn. Hoàng hậu Mallika và nữ cư sĩ Visakha đã tận lực ủng hộ ni chúng trong việc thành lập tu viện cho phái nữ. Hai năm đầu, ni chúng được phép sử dụng vườn thượng uyển để làm trung tâm an cư. Ðến năm thứ ba họ mới lập được tu viện riêng biệt. Biết mình tuổi đã cao (97 tuổi), ni sư Gotami chú tâm đào luyện các ni sư tuổi trẻ tài cao trở thành những vị lãnh đạo xuất sắc sau này. Ni sư Yasodhara là một trong những vị lãnh đạo ni chúng xuất sắc. Cùng xuất gia một lượt với bà còn có các ni sư Sela, Vimala, Soma, Mutta và Nanduttara. Tất cả các vị này đều có mặt tại tinh xá Jetavana hôm nay.

Bắt đầu thời pháp về Quán Niệm Hơi Thở, Phật nói:

- Này các vị khất sĩ, phép Quán Niệm Hơi Thở nếu được phát triển và thực hành liên tục sẽ đem lại nhiều thành quả lớn. Phép Quán Niệm Hơi Thở là căn bản của tất cả các phép thiền định. Nhờ quán niệm hơi thở, hành giả được thân tâm nhẹ nhàng thanh tịnh mới có thể thành tựu dễ dàng các pháp Chỉ (Samatha) và Quán (Vipassana) như quán Tứ Niệm Xứ, Thất Giác Chi, vân vân. Pháp Quán Niệm Hơi Thở gồm có 16 cách thở như sau:

Thứ nhất: Thở vào một hơi dài, biết ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, biết ta đang thở ra một hơi dài.

Thứ hai: Thở vào một hơi ngắn, biết ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, biết ta đang thở ra một hơi ngắn.

Hai cách này nhằm chận đứng các tạp niệm và làm phát sanh chánh niệm.

Thứ ba: Thở vào và có ý thức hơi vào và lưu chuyển khắp thân ta. Thở ra và có ý thức hơi từ khắp thân ta đi ra.

Cách này giúp ta có ý thức về toàn thân ta cùng tất cả các bộ phận trong cơ thể.

Thứ tư: Thở vào và làm cho toàn thân ta an tịnh. Thở ra và làm cho toàn thân ta an tịnh.

Cách này nhằm làm cho thân tâm an tịnh, nhẹ nhàng.

Bốn cách thở trên nhằm tập làm chủ và điều hành thân thể.

Thứ năm: Thở vào và cảm thấy mừng vui. Thở ra và cảm thấy mừng vui (hỷ).

Thứ sáu: Thở vào và cảm thấy an lạc. Thở ra và cảm thấy an lạc (lạc).

Hai cách này nhằm làm phát sanh các cảm thọ "hỷ" và "lạc" để nuôi dưỡng thân tâm, để giúp ta có thể an trú lâu dài trong chánh niệm. Hỷ là cái vui thông thường. Lạc là cái vui thanh tịnh, tế nhị.

Thứ bảy: Thở vào và biết ta đang chú ý vào hơi thở vào. Thở ra và biết ta đang chú ý vào hơi thở ra.

Thứ tám: Thở vào và làm cho tâm ta an tịnh. Thở ra và làm cho tâm ta an tịnh.

Bốn cách thở trên nhằm tập làm chủ và tự giải thoát khỏi các cảm thọ.

Thứ chín: Thở vào và biết chính ta đang muốn thở vào. Thở ra và biết chính ta đang muốn thở ra.

Thứ mười: Thở vào và cảm thấy ta vui thú trong hơi thở vào. Thở ra và cảm thấy ta vui thú trong hơi thở ra.

Thứ mười một: Thở vào và nhiếp tâm vào định. Thở ra và nhiếp tâm vào định.

Thứ mười hai: Thở vào và giữ tâm thanh tịnh không nghĩ tưởng. Thở ra và giữ tâm thanh tịnh không nghĩ tưởng.

Bốn cách thở trên đây nhằm tập làm chủ và tự giải thoát khỏi sự ràng buộc của tâm ý.

Thứ mười ba: Thở vào và quán chiếu tánh vô thường của vạn pháp. Thở ra và quán chiếu tánh vô thường của vạn pháp.

Thứ mười bốn: Thở vào và khởi tâm xa lìa vạn pháp. Thở ra và khởi tâm xa lìa vạn pháp.

Thứ mười lăm: Thở vào và quán chiếu vạn pháp đều không, đều hoàn toàn vắng lặng. Thở ra và cũng quán chiếu như thế.

Thứ mười sáu: Thở vào và khởi tâm xả, không nghĩ tưởng. Thở ra và khởi tâm xả, không nghĩ tưởng.

Bốn cách thở trên đây nhằm giúp tâm ta tự giải thoát khỏi các đối tượng của tâm ý (trần cảnh), tức là giúp sáu căn thanh tịnh, không còn vướng mắc vào sáu trần. Thế gian này không còn gì có thể ràng buộc và gây phiền não cho ta nữa. Như thế là ta được giải thoát.

Một khi đạt được giải thoát, hành giả sống an lạc ngay trong cuộc đời mà không có gì trong cuộc đời có thể ràng buộc hành giả.

Ðức Phật đã dạy phép hành trì mười sáu cách thở lồng trong sự quán chiếu về thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng của tâm ý (trần cảnh). Hơi thở là dây cương để điều phục tâm ý như trừ tán loạn, sân hận, sợ hãi, tham dục ...

Gần ba ngàn vị khất sĩ và nữ khất sĩ được nghe kinh này đều lấy làm sung sướng được tỏ ngộ pháp tu giải thoát, tín tâm càng thêm bền chắc, không còn điều gì nghi ngờ nữa. Tất cả đều thầm cám ơn Thượng tọa Sariputta đã sắp đặt để mọi người được thưởng thức hương vị giải thoát hòa lẫn hương sen Kumudi dưới ánh trăng rằm huyền diệu.

 

Tự sát không phải là tự giải thoát 

Cuối năm 568 trước tây lịch, trong khi đức Phật đang nhập thất tại tinh xá Mahavana ở Vesali, có vài vị khất sĩ rủ nhau tự sát ngay trong tinh xá. Lý do là vì trong khi thực hành phép quán Tứ Niệm Xứ về Thân Bất Tịnh, các thầy thực hành Cửu Tưởng Quán nơi bãi tha ma trong khu rừng nơi người ta để thi hài những người chết nghèo khổ cho chim thú ăn. Cửu Tưởng Quán là sự quán tưởng về chín giai đoạn tàn hoại của cơ thể từ lúc mới chết thi thể bầm xanh, lần lần sình chương lên, kế đến nứt nẻ, nước vàng rịn chảy ra, da thịt rục rã, lầy thúi, vòi, chim, thú cắn xé rút rỉa, cho đến khi các mảnh xương rã rời mục nát. Các thầy cảm thấy quá ghê tởm cái thân nhơ bẩn hôi thúi của mình, không muốn mang nó nữa, muốn vứt bỏ tấm thân bất tịnh càng sớm càng tốt.

Sau thời hạn nhập thất, Phật được báo tin này. Ngài cho triệu tập tất cả các vị khất sĩ tại giảng đường Trùng Các (Kutagara) và dạy rằng:

- Này các thầy, Cửu Tưởng Quán là để trừ ái dục, là để trừ cái chấp thân là ngã hay ngã sở, để bỏ thói quen bám víu vào thân. Vì bám víu vào thân là nguyên nhân của đau khổ và sinh tử luân hồi. Quý thầy không nên bám víu vào thân, không nên quá tưng tiu chìu chuộng cái thân, nhưng cũng không nên hủy hoại nó. Tại sao không nên hủy hoại thân? Vì thân người khó được, vì thân người là phương tiện tốt nhất để tu tập giải thoát. Người tự hủy hoại thân để được giải thoát cũng ví như người muốn đi lên núi mà tự chặt bỏ hai chân của mình vì lỡ đạp phẩn dơ...

Này các thầy, tâm giải thoát là tâm không vướng mắc, không chấp trước, không chấp thân thanh tịnh đáng quý trọng, cũng không chấp thân ô trược đáng hủy diệt. Người có trí huệ phải biết tùy thuận nương theo những phương tiện mình đang tạm có để tinh tấn tu tập hầu đạt tới giải thoát khỏi mọi ràng buộc của thế gian, của cõi dục, của cõi sắc và của cõi vô sắc, cho đến khi hoàn toàn thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Này các thầy, thế nào là giải thoát? Sáu căn thanh tịnh, không đắm nhiễm sáu trần là giải thoát. Mắt không đắm nhiễm hình sắc, tai không đắm nhiễm âm thanh, mũi không đắm nhiễm mùi hương, lưỡi không đắm nhiễm mùi vị, thân không đắm nhiễm sự xúc chạm dịu dàng êm ái, ý không đắm nhiễm lời tán dương khen ngợi. Ðó chính là giải thoát. Bịt mắt, bịt tai không phải là giải thoát. Người mù, người điếc không phải là người được giải thoát.

Này các thầy, từ nay Như Lai hy vọng các thầy, nhất là những vị vừa mới xuất gia, biết rõ đâu là giải thoát và không còn phạm vào lỗi lầm đó nữa.

Nghe Phật nói xong, các vị khất sĩ mới xuất gia rất vui mừng, thấy rõ sự khác biệt giữa cái chết và sự giải thoát.

 

3- Hạ thứ 23 tại Jetavana (năm -567)

 

Giáo lý là ngón tay chỉ mặt trăng 

Ðầu mùa xuân năm 567 trước tây lịch, Phật lại trở về Sravasti để chuẩn bị mùa an cư thứ 23. Tại đây Phật lại có dịp giảng thêm về vấn đề phá chấp. Vốn là trong một buổi pháp đàm, khất sĩ Arittha cho rằng những điều Phật giảng đều là chân lý. Trong một buổi thuyết giảng tại tinh xá Jetavava, Phật nói:

- Này các thầy, giáo pháp của Như Lai có thấp có cao tùy theo trình độ của thính chúng mà giảng nói. Ðối với những người đam mê dục lạc thế gian, Như Lai nói đời là khổ. Ðối với những vị Bồ-tát mới phát tâm, Như Lai nói tất cả pháp giới chúng sanh đều thanh tịnh. Ðối với những người ham muốn danh lợi tài sản thế gian, Như Lai nói tất cả các pháp đều vô thường, không thể nắm giữ được. Ðối với những người mong cầu hạnh phúc, Như Lai nói cảnh giới Niết-bàn đầy đủ thường, lạc, ngã, tịnh.

Này các thầy, giáo pháp của Như Lai không phải là chân lý nhưng không rời chân lý. Cũng như ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay không phải là mặt trăng. Nhưng người chưa biết mặt trăng phải nương theo ngón tay để nhìn thấy mặt trăng. Vì chân lý không thể nghĩ bàn, nên không thể dùng lời nói và suy luận mà diễn tả được. Các thầy không nên chấp nơi lời nói, nơi văn tự mà phải nương theo đó để tìm hiểu chân lý, cũng như người nương theo ngón tay để nhìn thấy mặt trăng. Người nào chỉ lo chăm chú nhìn ngón tay thì không thể nào thấy được mặt trăng.

 

Giáo lý là chiếc bè đưa người sang sông[33] 

Ðức Phật nói tiếp:

- Này các thầy, giáo lý là chiếc bè đưa người sang sông, từ bờ mê đến bến giác. Người mê phải dùng bè để vượt qua con sông sinh tử. Nhưng khi đến bờ giác rồi thì chiếc bè trở nên vô dụng, không nên đội chiếc bè lên đầu mà đi.

Này các thầy, tất cả các giáo pháp mà Như Lai đã giảng dạy như Tứ Diệu Ðế, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ-Ðề Phần, Bát Chánh Ðạo, vô thường, vô ngã, khổ, không, vô tướng, vô tác ... là những điều các thầy cần phải học, hiểu và thực hành để đạt đến giác ngộ và giải thoát, chứ không phải những giáo điều mà quý vị phải tôn thờ.

 

Ngôn thuyết pháp và thân thuyết pháp[34] 

Năm nay trung tâm tu học của ni chúng tại Sravasti có đến 500 vị nữ khất sĩ. Ni sư Pajapati thường thỉnh Phật hoặc các bậc cao đức từ Jetavana hoặc từ Pubbarama tới giảng dạy. Thượng tọa thị giả Ananda được Phật giao cho trách nhiệm đề cử các vị giảng sư cho ni chúng. Nhận thấy Thượng tọa Bhanda là người có thật tu thật chứng nhưng ít khi chịu giảng nói, một số thầy đề nghị với Thượng tọa Ananda nên cử Thượng tọa Bhanda một lần thử xem. Thượng tọa Bhanda được chỉ định và bị nhiều thầy nói vào nên không thể từ chối. Ngày hôm sau, sau khi đi khất thực, Thượng tọa ghé vào một cụm rừng để thọ trai. Thọ trai xong, Thượng tọa đi về phía nữ tu viện. Thượng tọa được các ni sư ân cần đón tiếp. Ni sư Gotami thỉnh Thượng tọa lên pháp tòa.

Từ trên pháp tòa, Thượng tọa Bhanda nói:

- Thưa các đạo hữu, tôi không quen nói trước đại chúng. Hôm nay tôi xin đọc tặng các đạo hữu bài kệ mà tôi thường tâm niệm:

"An trú trong tĩnh mặc,

"Thấy pháp, trở về nguồn,

"Không hận thù bạo động,

"Niềm an lạc trào tuôn.

"Ðiều phục được kiêu mạn,

"Sống an hòa chân thật,

"Vượt ra ngoài ái nhiễm,

"Là niềm vui lớn nhất.

Ðọc xong bài kệ, Thượng tọa im lặng nhập đại định.

Bài thuyết pháp của Thượng tọa Bhanda chỉ có mấy chục tiếng, nhưng đạo phong của Thượng tọa đã làm cho ni chúng rất hoan hỷ. Một số ni cô bạch với ni sư Gotami xin Thượng tọa nói thêm. Ni sư Gotami chiều ý, tiến lên thỉnh cầu Thượng tọa giảng thêm về ý nghĩa bài kệ. Nhưng Thượng tọa Bhanda chỉ đọc lại bài kệ một lần nữa rồi bước xuống pháp tòa.

Câu chuyện này được trình lên Phật. Có thầy đề nghị từ nay chỉ nên cử những giảng sư có biện tài. Phật dạy:

- Này các thầy, biện tài tuy cần nhưng đạo phong của sự thực chứng là điều quan trọng hơn. Thân thuyết pháp thường có hiệu lực hơn là ngôn thuyết pháp. Từ nay thầy Ananda nên lấy ý kiến chung của đại chúng trong việc đề cử giảng sư cho ni chúng.

Rồi đức Phật nói kệ:

Người nói pháp hoạt bát

Chưa hẳn là đạt đạo.

Người tuy nghe học ít

Nhưng hiểu hành hợp nhất

Chính là người đạt đạo

Có khả năng truyền trao. (Kinh Pháp Cú, bài 259)

 

Jivaka hỏi Phật về ăn chay ăn mặn[35] 

Sau mùa an cư, Phật về Rajagriha (Vương Xá) để viếng thăm và giảng dạy đại chúng tại đây. Sau khi ở vài ngày tại Venuvana (Trúc Lâm), Phật lên núi Griddhakuta (Linh Thứu) ở tại tịnh thất của ngài trên đỉnh núi. Phật thích ở đây hơn vì nơi đây thanh tịnh, mát mẻ, khoảng khoát rất thuận lợi cho việc an dưỡng và thiền định.

Ðược ít hôm, Y sĩ Jivaka thỉnh Phật đến vườn xoài của ông dưới chân núi để tịnh dưỡng và để ông có dịp chăm sóc sức khỏe cho Phật. Jivaka đã dựng một tịnh thất nhỏ cho Phật ở ngay trong vườn xoài. Hằng ngày ông tự tay nấu thức ăn chay đem đến cúng dường Phật. Ông khuyên Phật nên nghỉ đi khất thực độ mươi bữa để ông cho thuốc bổ dưỡng. Thuốc này được chế toàn bằng rễ cây, lá cây và trái cây. Một hôm, ngồi trong vườn xoài, Jivaka hỏi:

- Bạch Thế Tôn, có người đồn đãi rằng các vị khất sĩ được Thế Tôn cho phép ăn thịt cá. Họ còn nói "Sa-môn Gotama cho phép giết thú vật để làm thức ăn cúng dường cho ông ta và các khất sĩ". Bạch Thế Tôn, con biết những lời đồn đãi này không đúng sự thật, nhưng con muốn được nghe Thế Tôn trực tiếp nói rõ về việc này.

- Này Jivaka, Như Lai không hề cho phép giết sinh vật, bất cứ là loại nào, để làm thực phẩm cho các khất sĩ. Như Lai đã từng nhắc nhở các vị khất sĩ như vầy: Nếu thấy người ta giết thú vật để làm thực phẩm cúng dường mình thì phải từ chối, không được ăn. Nếu không thấy mà chỉ nghe nói người ta đã vì mình mà giết thú vật thì cũng không được nhận thực phẩm đó. Và hơn thế nữa, dù không thấy, không nghe, nhưng một khi đã nghi rằng người ta vì mình mà giết thú vật thì cũng phải từ chối, không được ăn.

Này Jivaka, theo phép khất thực thì người ta cho mình thức ăn gì mình cũng phải nhận, không được chê khen. Nhưng trong trường hợp đã thấy, nghe hay nghi rằng người ta đã vì mình mà sát hại thú vật thì mình phải từ chối. Như thế mới nuôi dưỡng và bảo vệ được lòng từ bi của mình.

Thông thường, các thí chủ đều biết cúng dường bằng vật thực chay tịnh. Trừ khi họ không có sẵn thức ăn chay, mà đã đến giờ ngọ, họ mới chia xẻ phần ăn sẵn có của họ cho các thầy. Hoặc những người mới cúng dường lần đầu tiên, không biết, đem cúng thức ăn mặn, thì các vị khất sĩ cũng có thể thọ dụng để khỏi phụ lòng thí chủ, và cũng để cho thí chủ có dịp kết duyên từ từ với đạo giải thoát.

Nhưng đúng theo giới luật, đã cử sát sanh thì không nên thọ dụng những vật thực có hại đến sinh mạng của bất cứ loài vật nào.

- Bạch Thế Tôn, con thấy ăn chay làm cho cơ thể nhẹ nhàng và ít bệnh hơn ăn mặn. Thịt, cá thường có nhiều độc tố hơn rau cải và trái cây. Từ mười năm nay con đã ăn chay, con thấy vừa được khỏe mạnh, vừa nuôi dưỡng được lòng từ bi. Hôm nay con rất vui mừng được nghe chính Thế Tôn chỉ dạy về việc này.

Ðức Phật khen ngợi Jivaka và ngỏ lời mời ông hôm nào đến tinh xá Venuvana nói cho các vị khất sĩ nghe về các phép vệ sinh trong đời sống hằng ngày.

 

Sư cô Subha gặp tên du-đãng[36] 

Ðã tạo được nhiều phước báo trong quá khứ, cô Subha được tái sanh vào gia đình của một vị Bà-la-môn khả kính tại Rajagriha (Vương Xá). Nàng có sắc đẹp tuyệt trần, vì lẽ ấy nên có tên là Subha. Vào mùa an cư thứ hai của Phật, cô đã nghe Phật thuyết pháp nhiều lần và đã trở thành một tín nữ trung kiên. Ðến khi ni sư Pajapati Gotami được Phật cho phép thành lập Giáo Ðoàn Nữ Khất Sĩ, cô xin xuất gia để gia nhập vào giáo đoàn. Sư cô Subha tinh tấn chuyên cần thực hành Thiền Vắng Lặng (Samatha) và Thiền Minh Sát (Vipassana). Sư cô đã đạt được từng thánh thứ ba (anagami).

Một ngày kia, vào đầu mùa xuân năm 566 trước tây lịch, sư cô Subha định đi đến Griddhakuta viếng Phật. Lúc cô vừa đến khu vườn xoài vắng vẻ xinh đẹp của ông Jivaka thì có một thanh niên bước đến chận ngang đường, lả lơi trêu chọc. Sư cô nói:

- Này ông, tôi là một sư cô đã xuất gia, xin ông đừng chạm đến người tôi. Tôi đâu có làm gì xúc phạm đến ông, tôi đâu có lỗi gì mà ông chận đường tôi? Tôi rất quý mến Giáo Pháp và rất tôn trọng giới luật của đức Bổn sư đã ban hành. Tôi thực tập giáo pháp và nghiêm trì giới luật thật tinh cần để giữ cho thân tâm luôn luôn được trong sạch. Tại sao ông lại chận đường tôi?

- Này cô, cô đang còn son trẻ, sắc đẹp của cô thật trong sáng, thân hình của cô thật diễm kiều. Gia nhập vào Giáo Hội thì có lợi ích gì? Hãy lột bỏ đi lớp y vàng che mất thân hình kiều diễm của cô. Hãy đến đây, này cô, chúng ta hãy thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy bông hoa đang đua nở này, chúng ta hãy vui thú với mối tình nam nữ của trời ban. Này cô, hãy lại đây với tôi!

- Này ông, tâm ông còn chứa đầy những tư tưởng tham dục, nhưng tâm tôi đã thanh tịnh. Quả tim ông đang bị những khát vọng đê hèn khuấy động, nhưng tôi đã chán ngán cái xác thân phàm tục dơ bẩn này rồi. Tại sao ông mãi đứng đó chận đường tôi?

- Này cô, cô hãy xem kìa, hương thơm ngào ngạt của ngàn hoa đang phảng phất trong gió. Hãy thưởng ngoạn mùa xuân đang tung nở, hớn hở trong niềm vui.Hãy đến đây thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy hương hoa này như đàn bướm đang nhởn nhơ bay lượn kia, hãy tìm thú vui thơ mộng của tuổi xuân nam nữ. Những ngọn cây đầy bông hoa nghiêng ngả, lả lơi uốn mình trước gió, hình như đang ca hát để đón mừng chúng ta. Nhưng cô thì thui thủi vào rừng một mình, làm sao tìm được hạnh phúc trong đó?

Ôi! này người thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần, như một pho tượng đúc bằng vàng ròng lộng lẫy sáng chói, như một tiên nữ đang múa hát nơi cõi bồng lai, hãy đến đây với tôi. Tôi sẽ tặng nàng những bộ y phục làm bằng tơ lụa của thành phố Benares, cô sẽ càng thêm xinh đẹp không ai bì kịp.

Ôi! Ðôi mắt bồ câu của cô thật mơ mộng, đẹp đẽ tinh anh như hai vì sao lấp lánh giữa đêm thanh. Tôi sẽ quỳ phục dưới uy quyền của cô nếu chúng ta có thể cùng nhau hưởng lạc thú trong khu rừng hoang dại này. Cô là tất cả của đời tôi. Tôi quý cô còn hơn mạng sống của tôi.

Nếu cô lưu ý đến những lời thành khẩn của tôi thì chúng ta sẽ cùng nhau chung sống đời tại gia cư sĩ và tha hồ thụ hưởng lạc thú ở đời. Những kiều nữ thướt tha dễ mến sẽ chăm sóc và cung phụng cho cô đầy đủ mọi nhu cầu trong những tòa nhà nguy nga tráng lệ. Hằng ngày cô sẽ được trang điểm bằng những vòng hoa tươi thắm, ướp tẩm hương thơm ngào ngạt. Tôi sẽ rất sung sướng được tặng cô nhiều vòng vàng trang sức đủ loại, với những hạt kim cương lóng lánh sáng ngời.

Hằng đêm, cô sẽ nằm trải mình trên một cái giường ấm cúng, tiện nghi và sang trọng, có mùi thơm của gỗ trầm phảng phất, đắp lên mình một tấm chăn bông mịn màng, nhẹ nhàng, êm ấm, và gối đầu trên những cái gối dồn lông thiên nga mềm mại.

Này cô, cô không nên phí phạm tuổi xuân để sống đời thanh khiết phạm hạnh, vì rồi đây cô sẽ già nua, suy nhược, tàn tạ như một hoa sen héo tàn trong một ao đầm hoang dại.

- Này ông, nhìn vào phần nào trên cơ thể phù du yếu ớt này mà ông thấy thích thú? Có gì mà ông xem là dễ mến trong cái thân nhơ bẩn hôi thúi này?

- Ôi! Ðôi mắt cô dễ mến như đôi mắt một con hưu con rụt rè e sợ, tinh anh như hai vì sao sáng. Nhìn vào đó lòng tôi tê tái, tràn đầy khát vọng. Gương mặt cô còn tươi đẹp hơn vầng trăng rằm, thân hình cô còn sống động hơn pho tượng vàng rực rỡ. Nhìn vào đó lòng tôi rung cảm đê mê. Nhưng riêng về đôi mắt ngọc của cô, đối với tôi thật là vô giá. Trên thế gian này không có chi mà tôi yêu quý bằng đôi mắt của cô.

- Ông chận đường một sư cô xuất gia sống đời phạm hạnh. Ước vọng của ông thật điên rồ, và ông đang dấn bước trên con đường nguy hại. Lòng khao khát dục vọng thấp hèn của ông sẽ bị luật vua phép nước trừng phạt. Ai cũng biết đức vua Bimbisara là tín đồ trung thành của đức Bổn sư Gotama. Dù có trốn thoát luật vua phép nước, thì lương tâm ông cũng không bao giờ được yên ổn. Sau khi mạng chung, ông sẽ sa vào hỏa ngục để chịu hình phạt giường sắt, trụ đồng.

Này ông, ông đừng dùng lời ngon ngọt và các thứ dục lạc ở thế gian để cám dỗ tôi vô ích. Tôi không còn biết tham dục là gì. Hạnh phúc của tôi là Con Ðường Cao Thượng đang mở ra trước mắt, đưa tới giác ngộ và giải thoát. Nếu muốn, ông hãy đi cám dỗ người đàn bà nào chưa có đủ sáng suốt để thấy thân này là nhơ bẩn, là giả tạm, và cuộc đời này là vô thường, khổ, không, vô ngã.

Tôi là đệ tử của đức Phật, người đã vượt ra ngoài mọi ô nhiễm, đã tận diệt mọi ái dục, và đang dùng thuyền Bát-Nhã đưa tôi thẳng tiến đến Niết-Bàn. Những mũi tên tham dục không còn chạm được đến tôi. Tôi chỉ thích sống những nơi thanh vắng để dễ trở về bản thể Chơn Như tịch tĩnh.

Này ông, ông cố bám vào thân này như một vật quý báu thường còn và thuộc về của riêng ông, trong khi nó vốn là bọt bèo, là bong bóng. Tấm thân phù du tạm bợ này tựa hồ như trò chơi của nhà ảo thuật. Ðôi mắt này cũng chỉ là hai cái bong bóng chứa đầy nước mắt, chất nhờn và máu mủ. Nếu chỉ vì đôi mắt này mà ông chận đường tôi thì tôi cũng không tiếc rẻ gì.

Nói đến đây, sư cô Subha hồn nhiên đưa tay lên móc hai trồng con mắt ra đưa cho tên du đãng, sư cô nói:

- Ðây, hai con mắt của tôi đây. Ông hãy lấy đi, rồi tránh đường cho tôi đi.

Tên du đãng hoảng hốt, la lên:

- Ối! Này sư cô! Bậc thánh thiện thanh cao! Tôi đã lỡ lầm phạm tội lớn. Ngưỡng nguyện sư cô được an lành! Cầu xin mắt sư cô được hồi phục! Tôi không bao giờ còn dám tái phạm tội ác như thế này nữa. Cúi xin sư cô khoan dung tha lỗi cho tôi.

Nói xong, tên du đãng bỏ chạy mất. Sư cô Subha lần mò tìm đến am Phật trong vườn xoài của y sĩ Jivaka. Ðứng trước đức Bổn sư, sư cô ngước mặt nhìn lên, bỗng nhiên nhãn quan của sư cô được phục hồi như xưa[37], và cô chứng được quả vị A-la-hán.

Sau khi nghe sư cô Subha kể lại câu chuyện thương tâm này, đức Phật ra lệnh từ nay các nữ khất sĩ không được đi đâu một mình, bất cứ đi khất thực, vào thôn xóm, lội qua sông, băng qua một cánh đồng hay một khu rừng. Lúc ngủ cũng phải ngủ chung với một nữ khất sĩ khác để có thể bảo vệ cho nhau.

 

Phật nói kinh Phạm Võng (Brahmajala-sutta) 

Giữa mùa xuân năm 566 trước tây lịch, đức Phật bắt đầu lên đường đi về phương bắc, chuẩn bị trở về Jetavana nhập hạ thứ 24. Trên đường đi, trong lúc các vị khất sĩ im lặng theo dõi hơi thở để nuôi dưỡng chánh niệm, thì phía sau lưng đoàn khất sĩ có hai thầy trò du sĩ Suppiya cùng đi theo. Hai người nói chuyện với nhau về đức Phật và giáo pháp của ngài. Họ cố ý nói lớn tiếng để các vị khất sĩ có thể nghe được. Suppiya thì nêu lên những dư luận và lý lẽ để kích bác đức Phật và giáo pháp của Phật. Trái lại đệ tử của ông là Brahmadatta thì lại hết lòng bênh vực Phật và giáo pháp của Phật, lại còn khéo léo dùng lời lẽ và thí dụ cụ thể để tán dương Phật, làm cho các vị khất sĩ đang đi phía trước đều có cảm tình với chàng.

Chiều hôm ấy, Phật và các vị khất sĩ vào nghỉ đêm tại khu rừng Ambalatthika, gần Nalanda. Khu rừng này là nơi nghỉ mát của hoàng gia. Vua Bimbisara đã cho phép các tu sĩ, bất cứ thuộc giáo phái nào cũng có thể tạm sử dụng khu rừng Ambalatthika để nghỉ ngơi. Ðêm đó hai thầy trò Suppiya cũng nghỉ đêm tại đây.

Sáng hôm sau, các vị khất sĩ bàn tán với nhau về thái độ hôm qua của hai thầy trò Suppiya. Nghe được những lời bàn tán ấy, Phật bảo:

- Này các thầy, khi nghe người ta công kích, phỉ báng Như Lai hay giáo pháp, hay giáo đoàn khất sĩ, các thầy không nên sanh lòng công phẩn hay phiền muộn. Vì điều ấy có hại đến tâm thanh tịnh của các thầy. Khi nghe người ta khen ngợi Như Lai hay khen ngợi giáo pháp và giáo đoàn khất sĩ, các thầy cũng không nên mừng rỡ, thích thú và mãn nguyện. Vì điều ấy cũng có hại đến tâm thanh tịnh của các thầy. Các thầy chỉ nên bình tâm nhận xét xem những lời chỉ trích hay những lời khen ngợi đó đúng hay sai, đúng ở chỗ nào, sai ở chỗ nào, để mình có dịp học hỏi thêm.

Này các thầy, phần lớn những người khen ngợi Tam Bảo chỉ thấy được cái hay cái đẹp nhỏ bé bề ngoài như nếp sống phạm hạnh, công phu trì giới, lối sống đạm bạc, thái độ thanh nhàn của chúng ta mà thôi. Ít người thấy được phần trí tuệ, giác ngộ và giải thoát là phần cốt tủy của giáo pháp. Chỉ có người thực tu thực chứng mới biết được giá trị siêu thoát của phần này.

Này các thầy, trong thế gian có bao nhiêu chủ thuyết và bao nhiêu luận chấp, Như Lai đều rõ biết cả. Các giáo phái không ngớt tranh luận và đả kích nhau vì sự khác biệt giữa các chủ thuyết và luận chấp. Nhưng dù cho có nhiều khác biệt đến đâu cũng không ra khỏi 62 luận chấp căn bản. Hằng ngàn chủ thuyết triết học và tôn giáo hiện nay cũng chỉ quanh quẩn trong 62 luận chấp căn bản đó cho nên đều có những chỗ kẹt và những chỗ sai lầm. Chỉ có giáo pháp giác ngộ và giải thoát là vượt ra ngoài tất cả những chỗ kẹt và sai lầm của tư tưởng, tri giác và cảm thọ, vì giáo pháp giác ngộ có đặc tính giải thoát tri kiến[38].

Rồi Phật nói kinh Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến[39] (Brahmajala-sutta), phân tách nội dung của cả 62 kiến chấp và vạch ra những chỗ sai lầm của các kiến chấp này. Trong 62 kiến chấp (pubbantakappika) có[40]:

·        18 kiến chấp về ngã (atman) và thế giới (loka) trong quá khứ, gồm:

4 chủ trương ngã và thế giới là thường trụ,

4 chủ trương ngã và thế giới vừa là thường trụ vừa là vô thường,

4 chủ trương ngã và thế giới là hữu biên, là vô biên, là vừa hữu biên vừa vô biên, là không hữu biên cũng không vô biên,

4 chủ trương ngụy biện, không có giải đáp rõ ràng,

2 chủ trương ngã và thế giới phát sanh không do nguyên nhân nào cả.

·        44 kiến chấp về ngã trong tương lai, gồm:

16 chủ trương ngã là tri giác còn lại sau khi chết,

8 chủ trương ngã không còn tri giác sau khi chết,

8 chủ trương ngã không phải còn cũng không phải không còn tri giác sau khi chết,

7 chủ trương đoạn diệt, sau khi chết không còn ngã,

5 chủ trương Niết-bàn vừa là thú vui ngũ dục vừa là thú vui thiền định trong đời này.

Sau khi phân tách và trình bày những chỗ sai lầm của 62 kiến chấp, Phật nói:

- Hàng trăm hàng ngàn học thuyết hiện hành đang tranh chấp lăng xăng trong giới triết học và tôn giáo hiện nay đều nằm kẹt trong màng lưới của 62 kiến chấp nói trên, không thể nào vượt thoát ra nổi. Này các thầy, các thầy đừng đi vào cái lưới mê hồn ấy để mất hết thì giờ và cơ hội tu tập đạo giải thoát. Ðừng đi vào màng lưới của sự hý luận.

Này các thầy, tất cả những kiến chấp kia đều phát sinh do sự lừa gạt của tư tưởng, tri giác và cảm thọ. Vì không tu tập chánh niệm và quán chiếu nên người ta không biết được chân tướng của tư tưởng, tri giác và cảm thọ, do đó đã bị tư tưởng, tri giác và cảm thọ lừa gạt. Một khi thấy được nguồn gốc và bản chất của tư tưởng, tri giác và cảm thọ, người ta sẽ thấy được tự tánh vô thường và duyên sinh của sự vật. Một khi thấy được tự tánh vô thường và duyên sinh của sự vật, người ta mới thấy được Chơn Như Tánh thường, lạc, ngã, tịnh, và không còn vướng mắc vào tham ái, lo âu, sợ hãi. Lúc bấy giờ mọi kiến chấp, luận chấp đều là trò hý luận, không có nghĩa lý chân thật.

Sau khi nghe Phật giảng kinh Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến, thầy Ananda thấy lòng nhẹ nhỏm, không còn thắc mắc gì về các lý thuyết của lục sư ngoại đạo nữa.

 

Lục sư ngoại đạo[41] 

Ðại đức Svastika vừa nghe Phật giảng về 62 kiến chấp, trong đó có các kiến chấp của sáu giáo phái ngoại đạo thời bấy giờ, nhưng thầy chưa hiểu rõ. Thầy tìm đến Thượng tọa Moggallana để nhờ chỉ rõ thêm về các kiến chấp của lục sư ngoại đạo.

Thượng tọa Moggallana nói cho Svastika biết là tôn giáo cổ xưa nhất ở Ấn độ là Bà-la-môn giáo[42] (Brahmana) lấy kinh Veda (Vệ-đà, Phệ-đà) làm gốc, chủ trương đa thần. Theo kinh Rig Veda (Lê-câu Phệ-đà) thì thế giới được chia ra thành ba cảnh giới: Trời, Hư-không và Ðất. Mỗi cảnh giới đều có 11 vị thần. Cảnh giới Trời có 11 vị Thiên thần. Cảnh giới Hư-không có 11 vị Hư-không thần. Cảnh giới đất có 11 vị Ðịa thần. Sinh hoạt của Bà-la-môn giáo lấy sự cúng tế làm trọng tâm, vì cúng tế được xem là phương tiện duy nhứt để tiếp xúc với các vị thần linh gieo họa hoặc giáng phúc. Ngoài ra các tu sĩ Bà-la-môn cũng phải biết bói toán và tướng số. Dòng tu sĩ Bà-la-môn là do cha truyền con nối, người thuộc giai cấp khác không thể trở thành tu sĩ Bà-la-môn. Người tu sĩ Bà-la-môn được đầy đủ các ưu đãi về địa vị, uy quyền và tài chánh trong xã hội.

Vào thế kỷ thứ 7 trước tây lịch, ở Ấn-độ có 6 giáo phái nổi lên chống lại tư-tưởng cổ truyền của Bà-la-môn giáo, và tạo được uy thế rất mạnh trong dân chúng. Vì 6 giáo phái này không thuộc Phật giáo nên trong kinh Phật gọi là "lục sư ngoại đạo" để tránh sự lầm lẫn với Phật giáo. Lục sư ngoại đạo gồm có:

1- Sanjaya-Belatthiputta (San-xà-da Tỳ-la-chi-tử): Hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana ở trong giáo phái này trước khi xuất gia theo Phật. Giáo phái này chủ trương Bất-khả-tri (Hoài nghi) và Thích-ứng. Họ cho rằng tri thức con người không thể đạt được chân lý tuyệt đối (Bất khả tri). Cho nên chỉ có chân lý tương đối tùy theo hoàn cảnh, không gian và thời gian. Chân lý trong hoàn cảnh này, ở thời gian này, ở địa phương này có thể không phải là chân lý trong hoàn cảnh khác, hoặc trong thời gian khác, hoặc ở địa phương khác. Người tu không cần cầu đạo cao siêu, không cần tìm hiểu chân lý tuyệt đối, vì có tìm cũng không hiểu nổi, chỉ cần ăn ở hiền lành theo phong tục, tập quán của địa phương mình, trải qua 8 muôn kiếp tự nhiên chứng đắc.

2- Ajita-Kesakambala (A-kỳ-đa Xí-xá-khâm-bà-la): Giáo phái này chủ trương Duy-vật, Ðoạn-diệt và Khoái-lạc, phủ nhận lý nhân quả. Họ cho rằng con người do bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa tạo thành. Sau khi chết bốn yếu tố đó tan rã, không còn gì khác. Không có thiện ác, họa phước, nhân duyên, quả báo, quá khứ, vị lai gì cả. Theo phái này, mục đích của đời người là hưởng lạc thú khi còn đang sống.

3- Makkhali-Gosaleiputta (Mạt-già-lê Câu-xá-lê-tử): Giáo phái này ra đời ở Sravasti, chủ trương thuyết Tự-nhiên. Thế giới và chúng sanh đều sanh ra theo luật Tự nhiên. Các khổ vui và vận mạng con người đều do những quy luật vận hành tự nhiên. Con người không thể cưỡng lại được, tốt hơn hết là nên vui vẻ thuận theo luật vận hành tự nhiên đó.

4- Purana-Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp): Giáo phái này chủ trương không có giá trị Ðạo-đức, không có nghiệp báo thiện ác. Quan niệm thiện ác chỉ là một nhận thức sai lầm do con người bày đặt ra để lừa gạt.

5- Pakudha-Kaccana (Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên): Giáo phái này chủ trương con người không thật có, mà chỉ là sự phối hợp của 8 yếu tố bất sanh bất diệt là đất, nước, gió, lửa, không gian, khổ, vui và linh hồn. Sống và chết chỉ là sự quy tụ hay phân tán của 8 yếu tố bất diệt đó. Mạng sống và khổ vui của con người đều do Tự-Tại-Thiên (Para-nimmita-vasa-vattin) tạo ra và quyết định.

6- Nigantha-Nataputta (Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử): Ông sanh trưởng ở ngoại ô Vesali, là khai tổ của đạo Jaina (Kỳ-na giáo) ngày nay. Ông mất năm 72 tuổi tại thành Pava, gần Kusinagar. Giáo phái này chủ trương tuyệt đối không sát sanh, cấm giết sinh vật để cúng tế, khổ hạnh tối đa nhất là về ăn uống, không mặc quần áo. Họ cho rằng vận mạng đời nay đều do đời trước tạo ra, không thể do sự tu hành mà thay đổi được. Tu hành trong kiếp này là để tạo phước cho đời sau.

Thượng tọa Moggallana nói:

- Này Svastika, Bà-la-môn giáo tuy là tôn giáo cổ xưa nhất, nhưng chỉ dành độc quyền cho những người thuộc dòng dõi giai cấp Bà-la-môn. Những người thuộc giai cấp khác không thể trở nên tu sĩ Bà-la-môn. Ðó là một hình thức độc tài phi lý, vì không phải tất cả những người thuộc giai cấp Bà-la-môn đều toàn thiện, cũng không phải tất cả những người thuộc các giai cấp khác đều bất thiện. Tu sĩ Bà-la-môn chỉ lo các nghi lễ cúng tế để cầu tránh tai họa, được phước báo, được sanh về cõi trời Phạm Thiên. Như vậy là phủ nhận giá trị nội tại của con người. Trái lại chính giá trị đạo đức trong tâm con người mới thật sự đáng quý, mới có thể nâng cao con người lên bậc thánh.

Này Svastika, giáo pháp của Sanjaya-Belatthiputta chỉ có thể giúp người tu trở thành một con người tốt trong xã hội, không thể giúp người tu đạt được giác ngộ và giải thoát.

Này Svastika, giáo pháp của Ajita-Kesakambala không khéo chỉ tạo nên những con người đồi trụy, chỉ biết thụ hưởng dục lạc thấp hèn, không biết trau giồi những đức tánh cao thượng.

Này Svastika, theo giáo pháp của Makkhali-Gosaleiputta thì việc tu hành như lục bình trôi trên sông, cứ thả trôi theo dòng đời sanh già bệnh chết, không nên có sáng kiến, không cần khổ công học tập hay xây dựng bất cứ cái gì, vì tất cả đều do luật tự nhiên điều động.

Này Svastika, theo Purana-Kassapa thì không cần tu vì không có gì là thiện, không có gì là ác, ai muốn làm gì cứ làm. Giáo lý này chỉ đưa đến một xã hội rối loạn, đầy dẫy trộm cướp và giặc giã.

Này Svastika, theo Pakudha-Kaccana thì sự sống và những khổ vui ở thế gian đều do Tự-tại-thiên tạo ra và quyết định. Như vậy con người chẳng khác nào con cờ của Tự-tại-thiên. Con người không thể có sáng kiến và không có quyền quyết định gì cả, tất cả đều do Tự-tại-thiên điều khiển. Con người không có trách nhiệm gì cả.

Này Svastika, giáo phái Nigantha-Nataputta có nhiều điểm hay như cấm sát sanh, cấm giết sinh vật để cúng tế, chuyên tu khổ hạnh, thiểu dục tri túc, nhưng vẫn còn kẹt trong những kiến chấp nên không thể đạt đến giải thoát. Vì còn kiến chấp nên thiếu tinh thần tùy thuận, hỷ xả. Do kiến chấp nên họ chủ trương tuyệt đối không mặc y phục. Rốt cuộc sự lõa thể của họ làm chướng mắt những người trần tục. Và khi giáo pháp của họ được truyền đến các vùng băng giá ở Himalaya, các tu sĩ tại đây cũng phải mặc y phục màu trắng để chịu đựng khí lạnh. Ngoài ra họ cho rằng sống kiếp này là để trả các nghiệp đã tạo ra trong đời trước, như vậy chẳng khác nào nói kiếp này mình bị tù vì đời trước mình ăn trộm.

Ðại đức Svastika cám ơn Thượng tọa Moggallana, rồi suốt ngày hôm ấy thầy trầm ngâm suy nghĩ mới thấy giáo pháp của đức Phật thật là cao siêu, vượt ra ngoài mọi kiến chấp và luận chấp. Giáo pháp của đức Phật giúp cho người tu tự giải thoát tri kiến của mình, trước khi tự giải thoát ra khỏi sanh tử luân hồi.

 

Balaka Upali[43] thuộc ngoại đạo Nigantha xin xuất gia theo Phật 

Upali là một cư sĩ thông minh và giàu có vào bậc nhất ở thành phố Balaka, thuộc miền bắc nước Magadha. Do đó người ta gọi ông là Balaka Upali để khỏi lẫn lộn với những người tên Upali khác. Ông là thí chủ lớn nhất của giáo phái Nigantha Nataputta. Giáo phái này, lúc bấy giờ, được rất đông dân chúng tín mộ.

Lúc ấy vào giữa mùa xuân, Phật đang cư trú trong vườn xoài của ông Pavarika ở Nalanda. Một hôm, đạo sĩ Digha Tapassi, một cao đệ của giáo chủ Nigantha Nataputta, nhân đi khất thực ở Nalanda, đã ghé vào thăm Phật để đàm luận về đạo lý. Qua câu chuyện, đạo sĩ Tapassi nói:

- Này sa-môn Gotama, trong giáo pháp của chúng tôi không dùng danh từ hành nghiệp (karmani) mà chỉ dùng danh từ tội báo (dandani). Tội báo có nặng, có nhẹ. Nặng nhất là các tội do thân tạo.

- Này Tapassi, theo giáo pháp của chúng tôi thì ý nghiệp mới là quan trọng nhất, vì ý là gốc, là chủ của hành động.

Tapassi buộc Phật phải lập lại điều này ba lần để sau này không thể chối cãi. Sau đó ông kiếu từ ra về. Ông tìm đến giáo chủ Nataputta, kể lại chi tiết của cuộc đàm thoại. Nataputta cười lớn, nói:

- Sa-môn Gotama đã lầm lẫn nghiêm trọng. Tội trong tâm ý và nơi lời nói chưa hẳn là tội. Chỉ những tội do thân thể gây nên một cách cụ thể mới là quan trọng. Ví như khi người ta đang nghĩ hoặc nói đến giết người mà chưa thực hành thì đâu có tội. Chỉ khi nào đã thật sự giết người thì tội trạng mới rõ ràng, không chối cãi được. Này Tapassi, thầy đã nắm được yếu chỉ giáo pháp của ta.

Trong lúc Nataputta và Tapassi nói chuyện, có nhiều cư sĩ có mặt, trong đó có Balaka Upali. Nghe tới đây, Balaka Upali xin tình nguyện đến gặp Phật để đối chất và chỉ rõ chỗ sai của Phật. Giáo chủ Nataputta đồng ý, nhưng Tapassi e ngại Upali sẽ bị Phật chinh phục. Nataputta cười nói:

- Này Tapassi, thầy đừng ngại cư sĩ Upali sẽ trở thành đệ tử của Gotama. Trái lại, có thể Gotama sẽ trở thành đệ tử của Upali, không biết chừng.

Tapassi cố ngăn nhưng không được. Balaka Upali đến gặp Phật và cuộc đàm đạo giữa hai người rất là hào hứng. Ðây là lần đầu tiên nhà trí thức này gặp Phật. Qua bảy thí dụ liên tiếp, Phật chỉ cho Upali thấy ý là căn bản của tội. Biết rằng giáo phái Nigantha trì giới sát sanh rất kỹ lưỡng, Phật hỏi:

- Này Upali, trong khi đi đường, nhiều người không cố ý mà không tránh khỏi dẫm đạp lên các loài côn trùng thì có phạm tội không?

- Trong trường hợp này, giáo chủ Nataputta bảo rằng vì không cố ý đạp nên không có tội.

- Này Upali, như vậy là giáo chủ Nataputta đã nhìn nhận ý là căn bản của tội rồi.

Ðến đây, Upali không còn tìm cách ngụy biện được nữa. Ông nhìn nhận là qua những thí dụ đầu tiên ông đã thấy là Phật có lý rồi. Ông rất khâm phục đức độ và tuệ giác của Phật. Ông liền đảnh lễ Phật, xin làm đệ tử. Phật nói:

- Này Upali, ông hãy suy nghĩ cho thật kỹ. Một người có tên tuổi như ông không thể quyết định một cách vội vã được. Ông hãy trở về suy nghĩ cho chín chắn trước đã.

- Bạch Thế Tôn, con đã suy nghĩ chín chắn lắm rồi. Xin Thế Tôn cho con quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng. Con rất mừng đã tìm được con đường đạo lý chân chính. Con rất mừng được gặp Thế Tôn.

- Này Upali, bấy lâu nay ông đã là một thí chủ lớn cho giáo phái Nigantha. Vậy đừng vì theo tôi mà ngưng việc cúng dường các thầy bên đó.

- Thế Tôn thật là cao cả. Giáo chủ Nigantha không được như thế đâu.

Nghe tin Upali đã theo Phật, Tapassi đến báo cho giáo chủ Nataputta. Ông này không tin. Cả hai tìm tới nhà Upali để được chính Upali cho biết sự thực.

Ðược tin này, các vị khất sĩ rất vui mừng. Phật bảo:

- Này các thầy, đáng mừng hay không là ở chỗ các thầy có tu học tinh tấn hay không. Chúng ta không nên vui buồn theo sự thịnh suy. Chúng ta nên thản nhiên trước cái suy cũng như trước cái thịnh.

 

Thanh niên Bà-la-môn Sonadanta vấn đạo[44] 

Sau khi thăm viếng và giáo hóa tại Nalanda, Phật đi về hướng đông, đến Campa, thủ đô xứ Anga, cách Nalanda 150 km. Campa hiện nay là thành phố Bhagalpur. Xứ Anga nằm dưới quyền bảo hộ của vua Bimbisara. Dân cư ở đây đông đúc, ruộng đất phì nhiêu, hoa màu tươi tốt. Phật cư trú trong một khu rừng mát mẻ, bên cạnh hồ Gaggara. Trong hồ, hoa sen nở thơm ngát.

Nghe tin Phật ngụ tại bờ hồ Gaggara, dân chúng lũ lượt đến thăm viếng, cúng dường và nghe thuyết pháp. Sonadanta là một thanh niên dòng Bà-la-môn, nổi tiếng thông minh xuất chúng tại địa phương, cũng có ý muốn đi viếng Phật. Những người Bà-la-môn khác ngăn cản, nhưng Sonadanta mỉm cười bảo rằng Phật là một nhân vật lỗi lạc, trên đời ít có, nếu không đến gặp thì thật là bỏ phí cơ hội ngàn năm một thuở. Ông nói:

- Tôi phải đi đến đó để học hỏi chứ. Ðể biết ai hơn ai ở những điểm nào.

Nghe Sonadanta nói quả quyết như vậy, giới trí thức rủ nhau đi theo ông ta rất đông để được nghe cuộc tranh luận giữa hai người. Lúc đến nơi, sau khi chào hỏi, Sonadanta mở lời:

- Thưa sa-môn Gotama, chúng tôi được nghe danh tiếng của sa-môn từ lâu, hôm nay chúng tôi đến đây để được học hỏi giáo pháp của ngài. Không biết giáo pháp của ngài có những đặc điểm gì?

- Thưa quý vị, trước khi nói đến giáo pháp của chúng tôi, tôi cũng muốn được biết cái hay trong giáo pháp của quý vị. Xin quý vị cho tôi biết một tu sĩ Bà-la-môn chân chính phải như thế nào?

- Này sa-môn Gotama, một tu sĩ Bà-la-môn chân chính cần phải có đủ năm điều kiện sau đây: Thứ nhất là phải có dung nhan đẹp đẽ, thứ hai là phải biết kỹ thuật xướng tụng kinh chú Veda, thứ ba là phải có huyết thống thuần túy Bà-la-môn trong bảy đời, thứ tư là phải có đức hạnh, thứ năm là phải có trí tuệ.

- Trong năm điều đó, điều nào là căn bản, điều nào là thứ yếu?

- Tất cả năm điều kiện đều quan trọng như nhau, không thể thiếu một điều kiện nào cả.

- Này Sonadanta, ông nghĩ sao? Nếu có vị Bà-la-môn đầy đủ đức hạnh, trí tuệ hơn người, xướng tụng kinh chú thật hay, thì vị đó có làm tròn sứ mạng tu sĩ của ông ta không? Ông ta có phải là một tu sĩ Bà-la-môn chân chính không?

- Cũng được, nhưng dù sao nếu có thêm dung nhan đẹp đẽ và huyết thống thuần túy vẫn hơn.

- Này Sonadanta, nếu có vị Bà-la-môn có dung nhan đẹp đẽ, huyết thống thuần túy, nhưng thiếu đạo đức và trí tuệ thì ông nghĩ sao? Vị đó có làm tròn sứ mạng tu sĩ Bà-la-môn không?

- Dĩ nhiên là không thể làm tròn sứ mạng của một tu sĩ nếu thiếu đạo đức và trí tuệ.

- Này Sonadanta, vậy ông có nhìn nhận là điều kiện đạo đức và trí tuệ quan trọng hơn điều kiện dung nhan và huyết thống không?

- Thưa sa-môn, đúng như vậy.

Nói đến đây, gần 500 vị Bà-la-môn có mặt đưa tay lên phản đối Sonadanta. Họ kết tội Sonadanta đã bị Phật đưa vào bẫy phải chấp nhận điều kiện huyết thống không quan trọng. Phật can thiệp:

- Này quý vị quan khách, nếu quý vị có lòng tin nơi người đại diện của quý vị là Sonadanta, thì xin quý vị im lặng để tôi tiếp tục nói chuyện với ông ta. Còn nếu quý vị không có lòng tin nơi ông ta, thì quý vị hãy bảo ông ta im lặng để tôi nói chuyện với quý vị.

Mọi người trở lại im lặng. Sonadanta nói:

- Xin sa-môn Gotama cho phép tôi có đôi lời nói với các bạn tôi.

Rồi Sonadanta quay lại với 500 vị Bà-la-môn. Ông ta chỉ vào một thanh niên ngồi hàng đầu và nói:

- Các bạn có thấy cháu tôi là Angaka đang ngồi kia không? Angaka là một thanh niên tuấn tú, khôi ngô, phong thái trang nhã. Về dung nhan ít ai sánh kịp Angaka. Angaka lại thông hiểu ba bộ kinh Veda, văn phạm, ngữ pháp và kỹ thuật xướng tụng kinh chú, điều này ai cũng biết. Angaka cũng có huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời, kể cả bên cha lẫn bên mẹ. Nhưng giả sử Angaka giết người, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, thì các bạn có chấp nhận cho Angaka làm tu sĩ Bà-la-môn không? Thưa các bạn, điều kiện đức hạnh và trí tuệ mới đích thực quan trọng. Ðây là sự thực chung cho tất cả mọi người chứ không phải sự thực riêng của sa-môn Gotama.

Sonadanta nói tới đây thì tiếng hoan hô lại nổi lên vang dậy. Ðợi cho tiếng hoan hô chấm dứt, Phật hỏi Sonadanta:

- Nhưng trong hai điều kiện còn lại là giới hạnh và trí tuệ, ta có thể bỏ bớt một điều để chỉ giữ lại một điều không?

- Thưa sa-môn Gotama, không thể được. Vì nhờ giới hạnh tinh nghiêm mà trí tuệ được phát triển; nhờ trí tuệ phát triển mà giới hạnh càng tinh nghiêm. Cũng như lấy tay để rửa tay, lấy chân để kỳ cọ chân. Giới hạnh và trí tuệ phải nương nhau mà phát triển, không thể thiếu một.

- Ðúng như vậy, Sonadanta, giới hạnh và trí tuệ phải nương nhau mà phát triển. Nhưng làm sao để phát triển giới hạnh và trí tuệ đến mức độ cao nhất?

- Phải xướng tụng kinh chú Veda theo đúng kỹ thuật và càng nhiều càng tốt.

- Này Sonadanta, ông nói phải xướng tụng kinh chú Veda theo đúng kỹ thuật. Vậy theo đúng kỹ thuật là như thế nào?

- Phải có giọng tốt, phải biết chỗ nào lên cao, chỗ nào xuống thấp ... cho âm thanh hòa hợp với nghĩa lý, vừa gây tác động mạnh vào tâm trí người nghe, vừa cảm ứng đến chư thiên.

- Này Sonadanta, theo như ông vừa nói thì người tu sĩ chỉ đóng vai trò trung gian giữa con người và chư thiên. Chưa phải là phương pháp hay nhất để phát triển giới đức và trí huệ. Này Sonadanta, muốn phát triển giới đức và trí huệ đến mức tối đa phải thực hành ba vô-lậu-học là Giới, Ðịnh và Huệ. Tu giới để được định, tu định để được huệ, rồi dùng huệ để phát triển giới. Giới càng thanh tịnh thì định lực càng vững, định lực càng vững thì trí huệ càng lớn. Này Sonadanta, muốn thành tựu giới đức và trí huệ lại phải thực hành minh-sát-tuệ (vipassana) để biết những gì là đau khổ, những gì là nguồn gốc của đau khổ, làm sao để dứt trừ nguồn gốc của đau khổ, để biết được thật tướng của tất cả sự vật ở đời, để biết tất cả sự vật ở đời đều là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã, để không còn tham lam, giận tức, si mê, để tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc ở thế gian, để được tự tại vô ngại thành bậc A-la-hán.

Này Sonadanta, đó là phương pháp tự tu tự chứng, tự phát triển giới đức và trí huệ của mình đến mức tối đa. Không phải nhờ cầu khẩn chư thiên mà được.

Sonadanta và 500 người Bà-la-môn chăm chú ngồi nghe một cách say sưa. Khi Phật dứt lời, Sonadanta nghiêm chỉnh đứng dậy chấp tay nói:

- Bạch sa-môn Gotama, hôm nay, nhờ nghe những lời chỉ dạy của sa-môn, con cảm thấy như người ở nơi tăm tối vừa được ngọn đèn sáng, như người lạc trong rừng vừa thấy lối ra. Con xin cám ơn sa-môn đã mở mắt cho con. Con xin được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con xin được làm môn đệ của ngài. Con kính thỉnh Thế Tôn và giáo đoàn ngày mai tới nhà con thọ trai.

Ðức Phật gật đầu chấp thuận. Hằng trăm người bạn của Sonadanta cũng xin quy y Tam Bảo. Sau đó ít lâu, tại làng Lechanankala ở xứ Kosala, một thanh niên Bà-la-môn nổi tiếng khác tên Ambattha lại cùng với thầy là Pokkharasadi xin quy y Tam Bảo sau khi đến viếng thăm và đàm đạo với Phật. Uy tín của Phật và giáo đoàn càng lên cao càng gây thêm nhiều ganh tị và bực tức trong các giáo phái khác. 



[1] Theo : Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương 9; Kinh Quán Phật Tam Muội Hải 2; Ðại Ðường Tây Vực Ký 7; Kinh Ðại Bát Niết Bàn, phẩm Phạm Hạnh, trang 436.

[2] Theo kinh Quán Phật Tam Muội Hải thì quỷ Alavaka có 1 cổ, 6 đầu, 6 mặt, đầu gối có 2 mặt, toàn thân có lông như mũi tên, hể thân cử động thì lông bắn ra như tên, cặp mắt đỏ ngầu luôn luôn có máu rịn chảy ra, thích uống máu và ăn thịt sống.

[3] Có lẽ đây là lý do vì sao ở chùa, vào mỗi buổi ngọ trai thường có một vị tăng đem ít thức ăn ra ngoài trời cúng thí thực.

[4] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 330-334.

[5] Xem Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, trang 522-528.

[6] Câu chuyện này còn gọi là "Phá nhan vi tiếu". Ý nói ngài Mahakassapa miệng mỉm cười, mặt rạng-rỡ.

[7] Nguyên văn chữ Hán "Ngô hữu chánh pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, kim phú Ma-Ha-Ca-Diếp". Có nghĩa là: Ta có "pháp môn vi diệu" gọi là "kho tàng hiểu biết về chánh pháp", cũng gọi là "tâm nhiệm mầu đầy đủ các đức tính thường lạc ngã tịnh của cảnh giới niết-bàn", cũng gọi là "thật tướng của tất cả các pháp đều là vô tướng", nay ta truyền cho ông Ma-Ha-Ca-Diếp.

[8] Lúc quy y Tam Bảo, ngườI cư sĩ Phật tử được ban Pháp-danh. Người xuất gia được ban Pháp-tự.

[9] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 6-14; Majjhima-nikaya 86; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 120.

[10] Taxila hay Takshasila là một thành phố thuộc miền bắc Ấn-độ, hiện nay thuộc miền bắc xứ Pakistan.

[11] Thị giả (ante-vasin) là vị tăng theo hầu bên cạnh sư phụ hoặc bên cạnh một vị trưởng lão.

[12] Sunakkhatta Upavana là con của thái tử Siddhattha với các thứ phi.

[13] Theo kinh Jataka, Bổn Sanh hay Túc Sanh Truyện, số 456; Jataka Translation, quyển IV, trang 61. Theo kinh Ðại Bát Niết Bàn, tập 2, phẩm Kiều Trần Như, trang 533, thì việc chọn ngài Ananda làm thị giả xảy ra tại thủ đô Rajagriha (Vương Xá) vào hạ thứ 31. Sau khi Phật từ chối sự tự nguyện của đại đức Kondanna và đại đức Sariputta vì lý do già yếu, 2 vị này liền cùng đại đức Moggallana khuyên đại đức Ananda nên nhận làm thị giả thường xuyên cho Phật (Theo soạn giả thuyết này không đúng).

[14] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 12; Majjhima-nikaya 86; Tạp A-Hàm 1077.

[15] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 11.

[16] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 36-37; Tăng nhất A-Hàm 26, 266.

[17] Xem Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, trang 517-521; Buddhist Legends, quyển II, trang 258-260 và quyển III, trang 165-166; kinh Pháp Cú, bài 287.

[18] Bà Kisa-Gotami này khác với bà Kisa-Gotami gặp Thái tử Siddhattha lúc Rahula mới sanh.

[19] Trích trong Trưởng Lão Ni Kệ.

[20] Xem kinh Pháp Cú, bài 287.

[21] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 4.

[22] Xem Majjhima-nikaya 10; Digha-nikaya 22; Trung A-Hàm 98; Tăng Nhất A-Hàm XII.1

[23] Cửu tưởng quán: 1/ Thây mới chết bầm xanh, 2/ Lần lần sình chương, 3/ Kế đến nứt nẻ, 4/ Máu mủ rịn chảy ra, 5/ Da thịt rục rã, 6/ Lầy thúi, 7/ Vòi, thú đục ăn, 8/ Xương mục, 9/ Tất cả đều tiêu tan.

[24] Những Hiện Tượng Tâm Lý, theo Duy Thức Học, gồm có 8 Tâm Vương 51 Tâm Sở. Tám Tâm Vương hay 8 Thức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt-na, a-lại-da. Năm mươi mốt Tâm Sở gồm có 5 Biệt Cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, huệ), 11 Thiện (tín, tấn,tàm, quí,vô tham, vô sân,vô si, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại), 4 Bất Ðịnh (hối, miên, tầm, tư), 5 Biến Hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư), 6 Phiền Não Ứng Khởi (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến), 20 Tùy Phiền Não (pnẫn, hận, phú, não, tật, san, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri).

[25] Bốn bậc thiền cõi sắc gồm có: sơ thiền (pathama jhana, prathama dhyana), nhị thiền (dvitiya dhyana), tam thiền (tisso jhana, tisrah dhyana) và tứ thiền (cattari jhana, catvari dhyana).

[26] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 189-191; Udana iv.8; Jataka 285; Vinaya: Maha Vagga.

[27] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 362; The Life of The Buddha của A.Foucher, trang 195.

[28] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 225-226.

[29] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 336-338.

[30] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 250-256; kinh Jataka, III 1; Therigatha (Trưởng Lão Ni Kệ).

[31] Theo The Life of Buddha as Legend and History, trang 111, thì Patacara là một tín nữ rất thông minh thuộc đạo Jaina. Cô thách người nào luận đạo hơn cô thì cô sẽ chịu làm vợ người đó; nếu là người xuất gia thì cô sẽ theo đạo của người đó. Cô được ngài Sariputta độ cho xuất gia theo Phật.

[32] Xem Majjhima-nikaya 62, 118; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 602.

[33] Xem Majjhima-nikaya 22; Trung A-Hàm 200.

[34] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.

[35] Xem Majjhima-nikaya 55: Jivaka sutta.

[36] Chuyện này được trích từ quyển Therigatha (Trưởng Lão Ni Kệ).

[37] Sư cô Subha vốn đã được tâm thanh tịnh của bậc A-na-hàm (Anagami) nên vừa mất nhục nhãn liền sử dụng ngay được thiên nhãn.

[38] Giải thoát tri kiến là đưa sự hiểu biết ra ngoài các kiến chấp có/không, phải/quấy, đúng/sai, tốt/xấu, ...

[39] Kinh Brahmajala sutta này nằm trong Trường A-Hàm 14, Digha nikaya 1. Kinh Phạm Võng, Lô-xá-na Phật Thuyết Bồ-tát Tâm Ðịa Giới, Phẩm Ðệ Thập chỉ là một phẩm của kinh trước.

[40] Xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 200. Có thuyết cho rằng 62 kiến chấp là: 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) X 4 chấp (sắc là ngã, sắc là ngã sở, sắc ờ trong ngã, ngã ở trong sắc; thọ là ...) X 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) + 2 kiến chấp (có ngã, không ngã). Tức là: 5 uẩn X 4 chấp X 3 đời + 2 kiến chấp = 62 kiến chấp.

[41] Xem Digha-nikaya 1 và 2.

[42] Bà-la-môn giáo về sau phát triển thành Ấn-độ giáo (Hinduism) ngày nay.

[43] Xem Majjhima-nikaya 56; Trung A-Hàm 133.

[44] Xem Digha-nikaya 4; Majjhima-nikaya 98.

 

---o0o---

 

Mục Lục > 01 > 02 > 03 > 04 > 05 > 06 > 07 > 08 > 09  > 10

11 > 12  > 13 > 14 > 15  > 16 > 17 > 18 > 19> 20

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 8-2007

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

7 chua dai tong lam y nghia phap khi mat tong tay tang ト妥 ấm áp lễ hằng thuận cho ba đôi uyên Thầy Nhất trÃƒÆ tài Khi nào cần bổ sung vitamin tụng kinh phổ môn và niệm danh hiệu bồ テス Gene và môi trường tác động lớn đến トO tuổi trẻ ngày nay với góc nhìn phật đến gieo trong hat giong bo thi thinh tuong dong bon su lon nhat viet nam len san tranh viec sat sinh tạng nghệ sĩ kể chuyện ăn chay テ thiền duong Ä chenh venh ghep lai Bệnh dạ dày Tầm Là Š4 không thỉnh tượng đồng bổn sư lớn nhất tức quan di hai mot nha su trong tu the toa thien vien tich người hoẠvi thay cua nhieu the he Phát vang màu năm mới bàn về việc chuyển đổi vận M០não nhớ tận Nói về chuyện Niêm hoa vi tiếu nuong theo hanh nghuyen cua ngai to su hue dang de tâm sự của một bác sỹ bị ung thư